Ngày cuối năm, Lão luật gửi đôi lời tâm sự về nghề luật để các bạn cùng suy ngẫm nhé ?
VIẾT TRONG ĐÊM CUỐI NĂM
Anh cúi xuống đời mình
gột từng giọt mặn
Lòng rưng rưng trong phút giao thừa
Nhìn năm cũ
ngẩn bên thềm bịn rịn
Nghe xuân về
bẽn lẽn trước rèm thưa!
Thấy trời đất ôm nhau thắm thiết
Nghe đôi môi ấm cả Khôn - Càn
Sáu mươi tuổi
Tim vẫn hồng sức trẻ
Mượn khao khát đời mình
bỗ bã với thời gian !
Nghe trong gió lời ai nhẹ thoảng
Mình ơi mình
em vẫn trọn vẹn đây
Như năm tháng tràn đầy xuân sắc
Mình bạc đầu
em cũng trắng ngất ngây !
Lạ lùng
không rượu mà say
Lời mình
xuân mới đẫm đầy
hương...
MEN !
Bên tách trà xuân
NGẪM VỀ NGUYÊN TẮC SUY ĐOÁN VÔ TỘI
TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ NƯỚC TA
Tôi có một thói quen cuối năm hay lặng ngồi suy ngẫm như là một sự
kiểm lại cuộc đời mình, nghề nghiệp của mình trong mối liên hệ với các
sự kiện xảy ra trong nhân tình thế thái. Cuộc đời cũng như nghề nghiệp
đều có vui, có buồn. Nghề luật sư là một
nghề gắn liền với số phận pháp lý của con người. Số phận đó có thể là
một sinh mệnh, một danh dự hay một quyền lợi về tài sản bị xâm hại…Người
luật sư vui vì sự cố gắng tận tụy của mình được đáp đền khi quyền lợi
hợp pháp của thân chủ mình đã được pháp luật bảo vệ, người kêu oan đã
được minh oan, người bị xâm hại về danh dự, tài sản… đã được khôi phục
bằng một bản án thấu tình đạt lý. Buồn vì những điều mình nói có căn cứ
lại không được Tòa án chấp nhận, nhưng lại không phân tích rõ lý do vì
sao, ngoài một câu như là điệp khúc “nghĩ không có căn cứ chấp nhận” !
Và oan sai cũng từ đó mà phát sinh…! Người luật sư hành nghề không nhân
danh một thứ quyền lực nào mà bằng chính sức mạnh của những luận lý được
xây dựng trên cơ sở tôn trọng sự thật khách quan, bằng những kỹ năng
hành nghề, với mục đích “phụng sự công lý”, bảo vệ tính nghiêm minh của
pháp luật, góp phần xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh như
mục tiêu tốt đẹp mà Đảng đã đề ra.
Chúng ta đang cố gắng xây
dựng một nền tư pháp trong sạch, nhất là trong tư pháp hình sự. Các cơ
quan tiến hành tố tụng đã cố gắng nỗ lực trong cuộc đấu tranh phòng,
chống tội phạm qua các giai đoạn tố tụng từ khởi tố điều tra, đến truy
tố, xét xử người phạm tội. Sự cố gắng đó đã đạt được những thành tựu
nhất định, qua các con số thống kê của ngành tòa án. Nhưng cũng phải
thẳng thắn nhìn nhận rằng không phải lúc nào công lý cũng được hiển hiện
ở chốn pháp đình. Oan sai vẫn còn đó khiến lòng mỗi người có lương tâm
và trách nhiệm không khỏi nhức nhối, nhói đau. Những tháng gần đây, trên
các phương tiện thông tin đại chúng nổi lên vụ án Nguyễn Thanh Chấn,
rồi kế tiếp theo đó là những tiếng kêu oan của Hàn Đức Long. Hai vụ án
này đều xảy ra ở Bắc Giang, nơi được coi là có thành tích cao nhất trong
việc khám phá, điều tra, truy tố và xét xử các vụ án hình sự. Có thể
nói, vụ án Nguyễn Thanh Chấn đã là hồi chuông cảnh báo oan sai có thật,
thậm chí có nhiều đang hiển hiện trong đời sống tư pháp hình sự nước
nhà.
Người ta đã bàn đến nhiều nguyên nhân có thể gây ra oan
sai. Trong bài viết đầu xuân này, tôi chỉ xin nói một đôi điều về nguyên
tắc suy đoán vô tội, mà theo thiển ý của tôi, do sự hiểu biết chưa đầy
đủ, chưa đúng về điều cốt lõi của nguyên tắc này từ phía các cán bộ, các
cơ quan tiến hành tố tụng là nguyên nhân dẫn đến những oan sai thật đau
lòng…
Thực ra nguyên tắc suy đoán vô tội chưa được công nhận
và quy định một cách chính thức trong luật thực định của nước ta, nhưng
tinh thần của nó đã được thể hiện trong một điều của Hiến pháp 1992,
Điều 72, Chương V “Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân” : “ Không ai
bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của
Tòa án đã có hiệu lực pháp luật”. Một điều vui mừng là vấn đề “Quyền con
người” lần đầu tiên được hiến định trong Hiến pháp sửa đổi năm 2013 vừa
được Quốc hội thông qua ngày 28/11/2013, với tên gọi của Chương II
“Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân”. Tinh thần của
nguyên tắc suy đoán vô tội cũng được xác định một cách rõ hơn trong Điều
31 với 5 khoản, trong đó : Khoản 1 quy định “ Người bị buộc tội được
coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định
và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật”. Đó là một
bước phát triển mới trong việc hiến định quyền con người trong lịch sử
lập hiến của Nhà nước ta.
Đã có nhiều bài viết của các luật
sư, luật gia và các nhà nghiên cứu pháp luật về nguyên tắc này đề cập
đến lịch sử và vị trí, tầm quan trọng của nó trong tố tụng hình sự. Tôi
không dám lạm bàn về những điều có ý nghĩa học thuật mà chỉ xin nói một
cách nôm na cho gần gũi với đời thường.
Nguyên tắc suy đoán
vô tội xác lập nghĩa vụ chứng minh việc phạm tội là thuộc về các cơ
quan tiến hành tố tụng, các điều tra viên, kiểm sát viên… Bị can, bị cáo
có quyền chứ không có nghĩa vụ chứng minh là mình vô tội. Vì họ không
có nghĩa vụ chứng minh đó nên họ có quyền im lặng khi bị bắt, bị hỏi
cung khi chưa có mặt của luật sư bào chữa cho họ.Tôi hiểu tinh thần của
nguyên tắc này là : Khi tạm giữ, khởi tố điều tra, truy tố và xét xử một
người bị tình nghi phạm tội, hoặc họ đã trở thành bị can, bị cáo trong
vụ án thì trong tâm thức của những người tiến hành tố tụng phải coi họ
là người không có tội và thực sự mong muốn họ là người không có tội,
nhưng vì những chứng cứ thu thập được là những bằng chứng hoàn toàn
chống lại họ, không có bất kỳ một chứng cứ nào cho thấy họ vô tội, nên
buộc lòng phải kết luận và quyết định truy tố, xét xử họ về tội đã phạm.
Việc kết tội là hệ quả của các bằng chứng rõ ràng về hành vi phạm tội
của họ mà không thể nào khác được.
Tiếc rằng, nguyên tắc này
lại không được thể hiện một cách đầy đủ, triệt để trong thực tiễn khởi
tố, điều tra, truy tố và xét xử. Những người được phân công các nhiệm vụ
này hình như lại bị chi phối bởi một suy nghĩ phải chứng minh cho được
người bị tình nghi hoặc bị can, bị cáo đã phạm tội, chứ không phải chứng
minh là họ có tội hay không. Từ nhận thức này nên các hoạt động điều
tra, truy tố và xét xử đều nhằm mục đích chứng minh việc phạm tội của
họ. Khi đã chứng minh được họ phạm tội thì coi như các cán bộ này đã
hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, được tính thành tích, mà lẽ ra, khi
bắt , khởi tố điều tra, truy tố và xét xử một người mà xác định người đó
không có tội, mới là chỉ số tính thành tích cao nhất, tốt nhất của việc
thực thi công lý, vì đã minh oan được cho số phận một con người. Điều
này là cốt tử đối với những người đối diện với án tử mà thực ra là họ bị
oan sai.
Chính vì không nhận thức đầy đủ nguyên tắc suy đoán
vô tội nên một số điều tra viên, vì nôn nóng, bức xúc trước trách nhiệm
điều tra được phân công, đã phải dùng đến những biện pháp vi phạm pháp
luật tố tụng hình sự như mớm cung, dụ cung, bức cung, thậm chí cả nhục
hình chỉ để lấy được lời khai nhận tội của bị can và kết thúc điều tra
vụ án. Vì sợ hãi hay vì một lý do nào đó mà những người này buộc phải
nhận tội để tránh những biện pháp đau đớn kia và mong muốn ra tòa sẽ
khai đúng sự thật. Nhưng đến tòa cũng lại vấp phải cái tư duy của người
xét xử về nghĩa vụ của bị cáo phải chứng minh là mình đã bị bức cung,
nhục hình thì Tòa mới có cơ sở xem xét. Như vậy là tại pháp đình, Tòa án
đã buộc bị cáo phải có nghĩa vụ chứng minh lời khai của mình về sự vô
tội, trong khi đó, nghĩa vụ chứng minh lại không phải của họ.
Tôi chợt nhớ lần cùng Đoàn đại biểu của Liên đoàn luật sư Việt Nam sang
trao đổi về nghề nghiệp luật sư tranh tụng hình sự với Đại diện Tòa án
tối cao Trung Quốc. Khi được hỏi về điều này, vị đại diện này đã mỉm
cười và trả lời rất rõ rằng : Tòa án có quyền triệu tập điều tra viên đó
đến tòa để đối chất và anh ta phải có nghĩa vụ chứng minh là đã không
bức cung và dùng nhục hình với bị cáo. Phương tiện chứng minh là các
băng ghi hình, ghi âm, hoặc các bản cung có chữ ký của luật sư…
Thực tiễn xét xử ở nước ta từ trước đến nay gặp rất nhiều trường hợp hồ
sơ vụ án bị tòa án trả lại để điều tra bổ sung chỉ với lý do chưa đủ
căn cứ để kết tội bị cáo. Điều này cho thấy trong nhận thức của người
được phân công xét xử đã coi bị cáo là người có tội, vì cơ quan công tố
chưa chứng minh rõ được tội phạm của họ nên phải trả về để điều tra,
củng cố thêm chứng cứ. Trong khi về nguyên tắc tố tụng, nếu hồ sơ chưa
đủ căn cứ để kết tội, tức là cơ quan công tố đã không chứng minh được
tội phạm của bị cáo thì Tòa án phải tuyên xử họ không có tội mới đúng
nguyên tắc về nghĩa vụ chứng minh. Viết đến đây, tôi mới hiểu vì sao, ở
một số nước tư bản, Tòa án khi xét xử một bị cáo, thấy không chứng minh
được việc phạm tội của họ thì tuyên bố “Tội phạm không được thành lập”,
chứ không phải tuyên bố là họ vô tội. Suy ra có phải là thế này : Thâm
tâm, chúng tôi biết anh có tội đấy, nhưng vì không chứng minh được việc
phạm tội của anh nên đành phải tuyên bố “tội phạm không được thành lập”
đối với anh đó thôi?
Đầu xuân, lẽ ra không nên nói đến những
chuyện thế này, nhưng tôi lại nghĩ rằng, trước thềm năm mới, mỗi người
chuẩn bị cho mình một tâm thức đón chào cái mới, cái tốt tươi. Dành một
vài phút suy ngẫm về những điều đó cũng có ý nghĩa giúp ta nhìn lại
những thực trạng đang tồn tại, nói thật với nhau, để cùng nhau khắc phục
và đón một Mùa Xuân vui tươi trong niềm lạc quan phấn khởi về một năm
sẽ có nhiều dấu hiệu tốt lành.
Tôi có một niềm tin rằng, thực
trạng oan sai đã cất lên tiếng nói ở nghị trường, thu hút sự quan tâm
đặc biệt của dư luận xã hội, thì những suy ngẫm tản mạn trên đây của tôi
về nguyên tắc suy đoán vô tội trong tố tụng hình sự nước nhà, sẽ có một
ý nghĩa nào đó chăng?
Luật sư Nguyễn Minh Tâm
ĐÙA CHÚT VỚI XUÂN
Tóc xuân còn mãi mãi xanh
Mắt xuân thì cứ long lanh như là...
Da xuân thơm nõn thơm nà
Ba vòng xuân đủ thướt tha lòng người
Xuân vui tươi rói nụ cười
Lòng xuân thăm thẳm cứ vời vợi sâu
Xuân cho ta hỏi một câu
Tim xuân nằm ở nơi đâu...
để còn...
TRÒ CHUYỆN VỚI NGÀY ĐẦU TIÊN CỦA NĂM DƯƠNG LỊCH
Em đem đến cho ta một ngày mới lạ
Sáng se se và trưa nắng hoe vàng
Chiều buông nhẹ bóng hoàng hôn thư thả
Ta nghe lòng rơi trong cõi mênh mang...
Ngồi điểm lại những chuyện buồn năm cũ
Đò loay hoay xoay sở giữa đôi dòng
Bờ vẫn thế, chia hai chiều bồi lở
Thế thái nhân tình vẫn bên đục bên trong
Ta chửa biết những ngày sau, chửa biết
Nhưng ta tin rồi sẽ có một ngày
Những giá trị sẽ không còn giả thiệt
Để con người tay nắm chặt tay...
THỬ BÓI CHO VUI
Rắn đang đi…
Ngựa sắp về…
Rắn trườn trong cỏ…
ngựa thì đạp lên
Mình ơi…
da rắn thật mềm
Còn đây…
Vó ngựa chẳng êm đâu mà
Rắn buồn…
rắn cứ nhởn nha
Ngựa buồn…
Ngựa sẽ lấy đà tung lên
Bao nhiêu lụy…
bấy nhiêu phiền
Ngựa về…
Ngựa phá như điên mình à…
Đầu năm Lão thử nhìn xa
Vài lời tiên đoán gọi là…
Góp vui !
Thế thôi !




Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét