Chủ Nhật, 15 tháng 12, 2013

Vấn đề tụt hậu: cảnh báo về nhân lực VN

Liên tiếp trong tháng 11 vừa qua, một số tổ chức đã đưa ra những cảnh báo đáng lo ngại về chất lượng nhân lực của Việt Nam.  

Khó tìm được người có khả năng phù hợp
Trong báo cáo “Phát triển kỹ năng: Xây dựng lực lượng lao động cho một nền kinh tế thị trường hiện đại ở VN” công bố ngày 29.11, Ngân hàng Thế giới nhấn mạnh hệ thống phát triển kỹ năng kỹ thuật của VN chưa hoàn thiện do thiếu sự kết nối giữa các trường ĐH, dạy nghề với các doanh nghiệp, người lao động và sinh viên.


Việt Nam, nhân lực, cảnh báo
Ảnh có tính chất minh họa
Báo cáo đưa ra phân tích cho thấy tiến trình hiện đại hóa nền kinh tế sẽ dẫn tới sự dịch chuyển của cầu đối với lao động, chuyển từ các công việc chủ yếu là thủ công và đơn giản ngày nay sang các công việc phi thủ công và đòi hỏi nhiều kỹ năng hơn; chuyển từ các công việc chủ yếu là các thao tác, nhiệm vụ thường quy sang các nhiệm vụ không thường quy.

Và những công việc mới đó luôn đòi hỏi những kỹ năng mới. “Nhiều công ty vẫn không tìm được đủ số lượng người lao động có kỹ năng phù hợp. Sự thiếu hụt kỹ năng thể hiện đặc biệt rõ ràng ở các ứng viên tìm việc làm trong các vị trí kỹ thuật, chuyên môn và quản lý” - báo cáo viết.
Theo ông Christian Bodewig, tác giả chính của báo cáo, “Những công việc mới này hiện đã có mặt trên thị trường lao động, tuy nhiên người sử dụng lao động ở Việt Nam vẫn đang vất vả tìm kiếm những người lao động phù hợp với mình. Do đó, việc trang bị cho người lao động những kỹ năng cần thiết sẽ là một phần quan trọng trong những nỗ lực của Việt Nam để gia tăng tốc độ tăng trưởng kinh tế và tiếp tục tiến trình hiện đại hóa nền kinh tế trong thập kỷ tới và xa hơn nữa”.

Đào tạo lại quá nửa
Theo Sách Trắng 2014 của Phòng Thương mại châu Âu tại VN (EuroCham) - tổng hợp quan điểm của các doanh nghiệp thành viên EuroCham về các vấn đề cụ thể trong môi trường kinh doanh tại VN trong năm 2013 - công bố ngày 11.11, các doanh nghiệp ngành CNTT ở VN hiện phải đầu tư rất lớn cho đào tạo kỹ năng nghề, tiếng Anh và kỹ năng mềm khi tuyển dụng sinh viên mới tốt nghiệp.
Một nghiên cứu gần đây của Viện Thông tin - Truyền thông quốc gia cho biết 70% sinh viên tốt nghiệp ngành này cần phải qua đào tạo lại mới có thể đáp ứng được yêu cầu của các doanh nghiệp.
Ngành du lịch hiện vẫn thiếu nguồn nhân lực được đào tạo bài bản. Phần lớn hoạt động đào tạo hiện nay đều do các trung tâm đào tạo triển khai…
Bà Nicola Connolly, Phó chủ tịch EuroCham phụ trách lĩnh vực nguồn nhân lực và đào tạo, trích dẫn các nghiên cứu gần đây cho thấy tỷ lệ các công ty nước ngoài khẳng định phải đào tạo lại đội ngũ nguồn nhân lực nội địa luôn ở mức từ 40% đến 50%. Các doanh nghiệp này cho biết chính việc thiếu hụt nguồn nhân lực chất lượng cao là lý do lớn nhất họ không thể đầu tư tối đa ở VN hay tệ hơn nữa là chọn một thị trường khác trong khu vực.
Trong Sách Trắng 2014 cũng chỉ rõ: “Trong khối ASEAN, VN nằm ở nửa cuối của bảng xếp hạng đánh giá về phát triển nguồn nhân lực. Vì vậy, phát triển và nâng cao kỹ năng của lực lượng lao động là một trong những nhiệm vụ trọng yếu của VN nhằm đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động đang thay đổi nhanh chóng”.

Không đổi mới mạnh mẽ sẽ tụt hậu xa
Trước đó, phát biểu trước các đại biểu Quốc hội tại phiên thảo luận tổ ngày 24/10, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch - Đầu tư Bùi Quang Vinh cảnh báo nếu VN không đổi mới mạnh mẽ, quyết liệt và khẩn trương, đặc biệt là đổi mới thể chế kinh tế, sẽ tụt hậu xa so với khu vực, thậm chí tụt hậu so với Campuchia, Lào.
“Tôi cho rằng tài nguyên lớn nhất của VN là con người. Nhưng chúng ta đã khai thác tài nguyên này thế nào? Tôi là bộ trưởng, muốn nhận một cháu học tiến sĩ giỏi đang làm bên ngoài 50 triệu đồng/tháng, tôi nghĩ về bộ cậu ấy sẽ làm thay được việc của nhiều người khác.
Nhưng tôi không nhận được vì không trả lương như vậy được, và nếu tôi cho nghỉ việc mấy người kém để tuyển cậu ấy vào thì tôi sẽbị kiện ngay. Bộ máy nhà nước xây dựng chính sách mà cán bộ dốt, không thu hút được người tài thì làm sao có chính sách tốt được” – ông Bùi Quang Vinh nhấn mạnh.

Nhạc

Đồng Xanh - Giàn Thiên Lý Đã Xa

Đóng góp: yehuda Đồng xanh là chốn đây thiên đàng cỏ cây
Là nơi bầy thú hoang đang vui đùa trong nắng say
Đây những bờ suối vắng im phơi mình trên lùm cây
Đây những dòng nước mát khẽ vươn tay về thung lũng
Và những đôi nhân tình đang thả hồn dưới mây chiều

Đồng xanh giờ vắng tênh dưới trời lãng quên
Còn đâu bầy thú hoang đang vui đùa trong nắng êm
Đâu những bờ suối vắng đang êm trôi dưới lùm cây
Đâu những dòng nước mát khẽ vươn tay về thung lũng
Và những đôi nhân tình xưa đã lìa cách xa rồi

Ta yêu đồng xanh như đã yêu thương con người
Ta thương đôi tình nhân kia như gió thương yêu mây trời
Nhưng sao giờ đây chẳng thấy ai chung quanh ta
Đất trời như bãi tha ma trên đồng hoang cỏ cháy
Và giờ ta còn đứng đây giữa vùng hắt hiu
Trời không một chút mây đã khô cằn như đáy tim
Sao ta còn đứng mãi như người tình mong đợi ai
Sao ta còn đứng mãi để nghe tâm hồn tê tái
Và đã bao năm rồi ta đứng chờ giữa cánh đồng

 http://mp3.zing.vn/bai-hat/Dong-Xanh-Gian-Thien-Ly-Da-Xa-Bang-Kieu-Tuan-Ngoc/IW6ICCDC.html


Tội nghiệp thằng bé nhớ thương mãi quê nhà
Giàn thiên lý đã xa, mãi rời xa
Đứa bé lỡ yêu, lỡ nhớ cô em rồi
Tình đã quên mỗi sớm mai lặng trôi

Này nàng hỡi nhớ may áo cho người
Giàn thiên lý đã xa tít mù khơi.
Tấm áo cắt ngay với chiếc khăn mượt mà
Là chiếc chăn đắp chung những ngày qua

Tìm một miếng đất giúp cho gã si tình
Giàn thiên lý đã xa mãi ngàn xanh
Miếng đất cát hoang, vẫn sát bên giáo đường
Biển sẽ ru tiếng hát êm trùng dương

Giờ là lúc đã tan ánh mặt trời
Giàn thiên lý đã xa mãi người ơi
Lắp đất hố tôi, lắp vơi đôi tay cô nàng
Nàng hãy chôn trái tim non buồn thương 

HỎI THẦM ĐÁP KHẼ Hãy “yêu” theo cách của mình...


Thứ Tư, 27/11/2013 09:18

(NLĐO)- Năm nay tôi 29 tuổi, bà xã nhỏ hơn 5 tuổi. Chúng tôi cưới nhau được 4 tháng, bà xã và tôi trước khi cưới chưa bao giờ vượt quá giới hạn. Đây chính là điều làm cho sau ngày cưới chúng tôi rất háo hức khám phá nhau.

Tuy vậy, có vẻ như bà xã tôi thuộc tuýp người cổ điển: cô ấy không dám chủ động đòi hỏi dù nhiều khi tôi thử thách bằng cách 3-4 ngày, thậm chí một tuần lễ “không làm gì”; cô ấy cũng không dám trả lời những câu hỏi của tôi về chuyệnvợ chồng hoặc khi tôi đề nghị những kiểu cách mới thì cô ấy rất sượng sùng.
Tôi biết chuyện gối chăn thành công hay không là phải từ hai phía, thế nhưng bà xã tôi lại thụ động, hiền lành quá khiến tôi gặp không ít rắc rối. Có lần tôi thử áp dụng tư thế hơi khác một chút, vậy là cô ấy cứ tra hỏi tôi “đã từng làm như thế với ai chưa?”. Hoặc có lần, tôi muốn bà xã đổi chỗ cho tôi, thế là cô ấy lại nghi ngờ “chắc hồi trước anh có làm kiểu này rồi hả?”.
Cách gì cũng bị thắc mắc, nghi ngờ nên tôi mất hết hứng thú, sáng tạo. Có cách gì “mở mang” cho bà xã tôi không? Nếu cứ như vầy, chỉ việc trả lời những câu hỏi ngây ngô của bà xã cũng đủ khiến tôi cụt hứng, ngã ngựa...
kientruong...@gmail.com
Bạn thân mến,
Đàn ông các anh thật lạ. Gặp chị vợ “sành điệu” quá cũng thắc mắc, nghi ngờ; trúng phải người hiền lành, ngây thơ quá thì cũng kêu ca, than vãn. Âu đó cũng là chuyện thường tình, “mỗi cây mỗi hoa, mỗi nhà mỗi cảnh”, trời cho ai nấy hưởng. Cái quan trọng là nếu đã xác định là “đối tác chiến lược”, là “bạn đời tin cậy” của nhau thì từ từ mọi thứ sẽ đi vào quỹ đạo.
Bà xã bạn giống như một đứa trẻ mới tập tễnh bước vào ghế nhà trường. Vậy nên giáo trình của bạn phải bắt đầu bằng ABC chứ không thể lập tức cho cô ấy làm tích phân, đạo hàm. Ngoài ra, “phương pháp giảng dạy” cũng là điều rất quan trọng. Nếu nội dung tốt mà phương pháp dở thì học trò cũng không thể nào tiếp thu. Dục tốc bất đạt, bạn nên từ từ tập cho bà xã làm quen; chỉ khi nào quen rồi thì mới nói đến chủ động, sáng tạo. Chỉ mới 4 tháng thì có là bao so với cả cuộc đời?
Trước mắt, bạn nên chú ý thái độ, cử chỉ, lời nói lúc vợ chồng gần gũi. Có vẻ như bà xã bạn là người nhút nhát, không thích những gì quá khác thường so với suy nghĩ của mình. Vậy nên nếu có hỏi về chuyện ấy bạn cũng phải hết sức tế nhị, chọn lọc từ ngữ cho đẹp đẽ, đừng thô thiển, tục tằn.


Thông thường, điều người đàn ông cần biết trong các cuộc yêu là bạn tình của mình có hạnh phúc không, có vừa lòng không, có mong muốn “sớm gặp lại” không? Muốn biết điều đó ngoài “nhìn cử chỉ, đoán tâm trạng”, bạn nên hỏi bà xã những câu hỏi nhẹ nhàng nhưng biểu lộ sự quan tâm chân thành như “em thích như thế này hay như thế kia?”, “anh có cần phải nhanh hơn, mạnh mẽ hơn không?”, thậm chí có thể hỏi “em có nhớ anh không?” dù hai người chưa rời xa nhau nửa bước! Tin rằng với những câu hỏi như vậy, dần dần bạn sẽ làm cho bà xã thấy thoải mái, tự tin, mạnh dạn hơn.
Song song đó, việc áp dụng những phương cách mới cũng không nên quá đột ngột, khác thường. Chẳng hạn, nếu bà xã chỉ quen với phong cách cổ điển “anh trên, em dưới” thì trong quá trình “tác chiến” bạn có thể từ từ dịch chuyển sang tư thế nằm nghiêng đối mặt nhau hoặc cả hai cùng nằm ngửa, nằm sấp... chứ không nên đột ngột yêu cầu cô ấy thực hiện những tư thế lắc léo, phức tạp quá.
Còn nếu muốn bà xã đổi chỗ, bạn có thể không cần chờ đến lúc nhập cuộc mới yêu cầu mà làm điều này ngay từ khi chỉ mới chớm có ý định gần gũi. Nhiều người phụ nữ nói rằng họ rất thích cảm giác được nằm úp mặt vào bộ ngực ấm áp, rắn chắc của chồng; bà xã bạn hẳn cũng không ngoại lệ. Hãy tập cho cô ấy quen với việc nằm trên một chiếc nệm vừa ấm áp, gần gũi, thân thương trước khi muốn tiến xa hơn.
Chuyện vợ chồng là của riêng hai người nên giải quyết mọi rắc rối chủ yếu là từ người trong cuộc. Hi vọng với “phương pháp giáo dục” nhẹ nhàng ấy, bà xã bạn sẽ từ từ thích nghi, giỏi giang và chủ động hơn. Không có gì phải lo lắng cả anh bạn ạ. Thời gian phía trước còn rất dài, các bạn hãy tận hưởng hạnh phúc theo cách của mình. 
Vũ Kim Khôi

Bình luận:


  • Tìm được người vợ "chưa biết chữ" mới khó kientruong...gmail à. Còn chuyện "học chữ" thì đơn giản lắm. Cứ bình tĩnh, phụ nữ chúng tui ai cũng vậy cả, đều phải học từ từ. Trước tiên hãy cùng vợ học "chữ thường" cho nhuần nhuyễn đã. Sau khi "giỏi" rồi, tự khắc sẽ "viết chữ hoa". Theo thời gian cộng với kinh nghiệm thực tế bà xã em sẽ thành "cô giáo" cho coi. Lo gì chứ!
  • Quang 901
    5Thích  
    27/11/2013 10:40
    Bạn kientruong...@gmail thân mến! hãy kiên nhẫn, từ từ "từng bước từng bước một", như chuỵen gia đã nói, bạn hãy làm người hướng dẫn giỏi... Bạn đừng quá lo lắng, vợ mình ngày xưa cũng kiểu như bx của bạn, lúc nào cũng ngượng ngùng và xấu hổ, trốn tránh, thụ động... khi đó mình còn lo rằng vợ mình có vấn đề, có khiếm khuyết gì đó về tâm lý. Nhưng mình gạt đi và cố gắng "chăm sóc" hết mực, chủ yếu là bằng những "hành động trên giường" kèm thao những "lời thì thầm có cánh", trong những lúc gần gũi, hãy dần dần đặt vợ vào "thế đã rồi" thì họ phải chịu thôi chứ chống lại ta làm sao được hở bạn? Mình cũng mất hơn 3 tháng hết sức kiên nhẫn, kết quả rất tốt, vợ mình tiến bộ còn hơn cả sự mong đợi. Bây giờ, câu cửa miệng của cố ấy là "anh ơi, em ghiền anh mất rồi", hehehe.
  • THA HƯƠNG
    36Thích  
    27/11/2013 10:54
    CGTV nói quá đúng!Vợ chồng "đi" với nhau cả đời chứ có mô mới 4 tháng mà chú em đã bắt vợ phải..."lạng lách, đánh võng' thì ai mà hổng "sợ" trong khi vợ chú em mới vừa tập tành vào..."đường đua"?...Thời buổi này mà có cô vợ như rứa đối với tôi gần như trúng số...giải nhất đó chú em!Chuyện vợ chồng thì nên từ từ nó mới nhừ,chú em có được bao nhiêu bài vở mà "xổ" hết ko chừng vài ba năm vợ chú em đã "thấm nhuần tư tưởng" rồi lại...lật kèo khi đó ko chừng chú em phải khóc ròng?4 tháng mới cưới so với chặng đường còn quá dài,cứ nhẹ nhàng dìu bà xã theo điệu slow cho nó lãng mạn.Chứ mới vừa thưởng thức âm nhạc bạn lại "đưa" bà xã nhảy cha cha cha coi chừng...té quẹo chấu?

Đến nhanh thì mất nhanh



Ảnh Đăng Định

Cạn tàu ráo máng lúc chia tay

Chủ Nhật, 15/12/2013 05:01

Tình yêu rất cần sự tôn trọng để khi không còn yêu thương, 2 người vẫn có thể là bạn của nhau

"Trời ơi, ăn thì cũng đã ăn rồi, yêu thì cũng yêu rồi, biết làm sao đây?”- N.T, đang học năm 4 một trường đại học tại TP HCM, than vãn trên một diễn đàn dành cho sinh viên khi nhận được tin nhắn của cô người người yêu cũ đòi 1,5 triệu đồng tiền cơm.
Món nợ khó ngờ
Khi còn là sinh viên năm 2, N.T quen H., học cùng trường nhưng khác khoa. H. ở trọ nên có điều kiện nấu nướng, 2 người quyết định nấu ăn chung. Quen nhau được gần 2 năm thì nhiều mâu thuẫn, đường ai nấy đi.
Tưởng chuyện đã hết, mới đây, N.T nhận được tin nhắn của H: “Em đang đang cần tiền mua laptop. Trong 1 năm rưỡi nấu cơm nước, cho em nhận 1,5 triệu đồng”. N.T than thở: “Lúc nấu ăn chung, khi nào rảnh thì cô ấy mua; lúc rảnh, tôi đi mua chứ có khi nào tính tiền anh, tiền em? Khi có tiền, tôi còn sắm cả điện thoại, nệm… cho cô ấy nữa. Chưa bao giờ tôi nghĩ đến chuyện phải đòi hoặc trả lại cái gì”.
Khâu “tìm hiểu kỹ” rất quan trọng để có một tình yêu bền vững Ảnh: HẠNH DUYÊN
Vân Anh - hướng dẫn viên một công ty du lịch tại quận 3, TP HCM - kể câu chuyện “bị đòi nợ” của cô không kém phần ly kỳ. Khi còn học năm 3 đại học, Vân Anh quen với một người đã đi làm, có thu nhập ổn định. Chính vì thế, quà tặng của cô vào các ngày lễ, Tết bao giờ cũng nổi bật hơn các bạn: Khi thì con gấu bông to đùng, lúc là cái váy xinh xinh hay chiếc túi rất thời trang. Thỉnh thoảng, bạn bè tổ chức họp mặt, ăn uống ngoài trời, Vân Anh cũng được người yêu bao trọn gói.
Xác định yêu là cưới, đến năm 4, Vân Anh đưa người yêu về ra mắt gia đình. Anh ta mua rất nhiều quà cáp cho gia đình cô. Khỏi phải nói Vân Anh sung sướng đến mức nào khi có người yêu biết chiều chuộng, quan tâm.
“Thế nhưng, khi đường ai nấy đi, anh ta quay ngoắt, nhắn tin đòi tiền. Tôi hỏi bao nhiêu, anh ta nói ngay 4 triệu đồng. Đem 4 triệu đồng trả cho anh ta xong, tôi thấy mình may mắn. Nếu lỡ lấy anh ta thì không biết cuộc đời tôi sẽ ra sao?” - Vân Anh ngán ngẩm.
Oán hận, bêu riếu cay độc
Với thời đại công nghệ thông tin, chuyện tình yêu dường như không còn của riêng 2 người mà là chuyện của mọi người. Một câu nhận xét, một lời khen chê vừa đưa lên mạng, lập tức có hàng chục, hàng trăm người theo dõi.
Mới đây, cộng đồng mạng dậy sóng khi một cô gái viết trên Facebook của mình: “Thời đại này còn có người cầm 100k (100.000 đồng) đi gặp bạn gái”. Sau ý kiến này, lập tức có hàng trăm người “nhảy” vào cho rằng anh kia keo kiệt, “ki bo”. Tuy nhiên, cũng có người bảo thời đại văn minh, nam nữ bình quyền thì tại sao nữ không trả tiền được mà chỉ có nam? Rồi 2 nhân vật chính trong câu chuyện thi nhau đăng đàng kể lể, bình luận, mắng chửi nhau, kéo theo rất nhiều bạn bè vào cuộc chiến của họ.
Nói xấu người yêu sau khi chia tay là điều mà nhiều bạn trẻ mắc phải. Khi yêu nhau, cái gì của người yêu cũng đẹp, cũng lấp lánh. Khi hết yêu, mọi thứ trở nên tồi tệ.
Mới đây, bạn bè của H.O - nhân viên một công ty mỹ phẩm tại quận 1, TP HCM - ngỡ ngàng khi thấy cô ghi những dòng tâm sự cay đắng trên trang cá nhân của mình. Mọi chuyện xảy ra từ khi H.O và dự án “góp gạo thổi cơm chung” cùng người yêu tan vỡ. Chẳng biết lý do tại ai nhưng H.O cứ vật vã, than thở, thậm chí đòi tự tử để người yêu trở lại. Mong muốn không thành, cô đâm ra oán hận, bêu riếu người yêu cũ với nhiều lời lẽ cay độc. Bạn bè chỉ biết lắc đầu vì khuyên giải thế nào, H.O cũng không nghe..
****
Thạc sĩ Đào Lê Hòa An, Phó Giám đốc Trung tâm Đào tạo và Chăm sóc tinh thần Ý Tưởng Việt:
Đến nhanh thì mất nhanh
Yêu nhanh, sống vội đang là xu hướng của các bạn trẻ. Cái gì đến nhanh thì mất nhanh. Cái gì “mua được bằng tiền đều gắn liền với hạn sử dụng” là như vậy. Trong tất cả các khâu của “tiến trình tình yêu”, “tìm hiểu kỹ” (về tính cách, sở thích, ưu điểm, khuyết điểm, hoàn cảnh sống…) chính là khâu quan trọng nhất để có thể tìm thấy sự đồng điệu trong tâm hồn nhưng lại bị các bạn trẻ bỏ qua hoặc đốt cháy giai đoạn. Hậu quả là khi không còn yêu, không còn ràng buộc nhau thì bản chất thật đã được bộc lộ, gây ngỡ ngàng cho người còn lại...
 Bình luận tiêu biểu:
Thích nhất câu này của Thạc sĩ Đào Lê Hòa An, vì quá đúng:" Yêu nhanh, sống vội đang là xu hướng của các bạn trẻ. Cái gì đến nhanh thì mất nhanh. Cái gì “mua được bằng tiền đều gắn liền với hạn sử dụng”. Khi quen nhau, tìm hiểu, nếu không hợp thì chia tay là điều bình thường. Yêu thương, tôn trọng và bình đẳng trong khi yêu nhau, để nếu như vì hoàn cảnh trắc trở, hay khi một người có trái tim lỗi nhịp...mà không cùng nhau đi hết chặng đường đời vẫn giữ được mối quan hệ bạn bè chứ không phải nhìn nhau như kẻ thù. Các mối quan hệ có dính dáng đến tiền bạc, khi chia tay khó khăn, ồn ào hơn. Chia tay rồi đòi lại quà, tiền bạc nghe thật chua chát cho cả hai, nhưng đó là do lối sống thực dụng, coi trọng đồng tiền mà quên mất nhân phẩm, đạo đức của mình cũng như của người một thời mình yêu thương.


Im lặng là... tan vỡ!

Thứ Bảy, 07/12/2013 21:13

Cùng nhau chia sẻ mọi điều trong cuộc sống giúp vợ chồng hiểu và yêu thương nhau hơn

“Khi yêu nhau, chồng tôi có nói ghét nhất là phải sống với người vợ lắm lời hay than thở, chính vì vậy khi cưới nhau rồi nhiều lúc gặp chuyện bực bội, khó khăn, tôi cũng không dám nói với chồng” - Chị D. (quận Gò Vấp, TP HCM) trả lời khi vị thẩm phán xét xử vụ ly hôn giữa chị và anh T. hỏi vì sao khi gặp khó khăn trong cuộc sống, chị không tâm sự cùng chồng?
Đồng sàng dị mộng
Chi D. kể: Vợ chồng chị là công nhân, lương chỉ đủ sống. Hằng tháng, chồng chị đều đưa lương cho chị tự lo liệu mọi việc. Khi mới cưới, chỉ có vợ chồng thì mọi việc đều ổn nhưng khi có 2 mặt con và vật giá ngày càng leo thang, chi phí gia đình luôn thiếu hụt. Đã vậy, vài ba năm, gia đình chị lại về thăm quê chồng ở Thanh Hóa một lần. Mỗi lần về, chị đều âm thầm vay mượn bạn bè, người thân rồi trả dần nhưng chồng chị không biết, cứ nghĩ tiền vợ mình dành dụm được.
Hồi đầu năm, gia đình chị về mừng thọ bố chồng. Chị cứ nghĩ 6 anh em trong gia đình sẽ chung tay lo liệu, vậy mà chồng chị lên tiếng lo toàn bộ tiệc mừng. Chị can ngăn thì anh nổi giận, chửi vợ tính toán, lòng dạ hẹp hòi. “Giờ tôi rất mệt mỏi, tôi nghĩ ly hôn là giải pháp tốt nhất lúc này” - chị D. buồn rầu nói.
Người đàn ông biết lắng nghe, chia sẻ cùng vợ sẽ giúp gia đình thêm bền vững. (Ảnh chỉ có tính minh họa) Ảnh: HỒ SEN
Gặp chị N. bên ngoài phòng tham vấn tâm lý của Nhà Văn hóa Phụ nữ TP HCM, chị tâm sự: “Mỗi ngày khi tan sở, tôi tất bật đi đón con, cơm nước, dọn dẹp, rồi dạy con cái học hành; chồng tôi thì luôn có lý do để về muộn. Hôm nào về sớm, anh ăn uống, đọc báo, xem tivi trong khi tôi không có phút giây nghỉ ngơi. Mỗi khi nhờ anh giúp việc nhà hay dạy con học, anh lại nói “đó là việc của đàn bà”. Đã vậy, gia đình chị sống chung với mẹ chồng, đôi khi giữa mẹ chồng nàng dâu có va chạm, chị tâm sự với anh. Chưa kịp nghe hết câu chuyện, anh đã nổi nóng rồi mắng chị. Sau những lần gặp “sự cố” đó, chị hạn chế tâm sự với chồng. Giờ thì chị bị stress, hay cáu gắt vô cớ.
Cần được chia sẻ
Sau phiên tòa, anh T., chồng chị D., chia sẻ: Trước đây anh khá vô tâm, không quan tâm đến việc nhà và cảm xúc của vợ. Vợ anh cũng ít khi than thở nên anh nghĩ mọi việc trong nhà đều ổn. Cho tới hôm vợ đưa đơn ly hôn anh mới bất ngờ nhưng lúc đó đang nóng giận và tự ái nên ký luôn. “Khi ra tòa, nghe lời nói của vợ, tôi mới hiểu bao năm chung sống, mình chẳng lo lắng được gì, một mình vợ phải gánh vác mọi việc trong gia đình. Tôi chợt nhận ra mình đã không hiểu nhiều về người phụ nữ bao năm sống bên cạnh. Cô ấy vui gì, buồn gì, bận rộn gì, gặp chuyện khó khăn gì... hầu như phải tự mình bươn chải. Trước đây, tôi cứ nghĩ mình lo đi làm, hằng tháng đưa tiền về cho vợ là đã đầy đủ bổn phận. Ngay cả số tiền đó thiếu đủ thế nào tôi cũng ít quan tâm. Giá như tôi sớm nhận ra vợ chồng nên chia sẻ mọi thứ trong gia đình để hiểu nhau hơn thì có lẽ gia đình tôi không đi đến bước đường này. Cũng may tòa bác đơn ly hôn để tôi còn có cơ hội sửa sai” - anh T. tâm sự.
Bà Nguyễn Bích Thủy, Chi hội trưởng Hội Phụ nữ tổ 110, phường 12, quận Gò Vấp, cho rằng: “Một đặc điểm của phụ nữ là dù vất vả mấy nhưng chỉ cần có lời nói, cử chỉ thể hiện sự quan tâm của chồng là quên hết mệt nhọc. Họ muốn được trò chuyện với chồng, còn đàn ông lại thường tìm sự yên tĩnh, thảnh thơi khi về với vợ con. Các ông chồng coi việc nhà, chuyện ứng xử giữa các mối quan hệ trong gia đình là chuyện nhỏ nhặt không đáng quan tâm. Có người còn thấy bực bội, cáu gắt, thậm chí bỏ đi khi vợ muốn tâm sự, chia sẻ. Điều này khiến người vợ cảm thấy tổn thương, lại suy diễn rằng chồng không yêu, không quan tâm đến mình khiến vợ chồng ngày càng xa nhau”.


Bình luận

  • cường
    11Thích  
    09/12/2013 12:42
    Ông Phạm Anh Duy, giám đốc Công ty Tư vấn tâm lý Duy Anh bảo “Than” cũng phải có nghệ thuật ư? Nếu là 1 cô chân dài trẻ đẹp chưa từng ngủ với chồng (xin lỗi, sự thật luôn luôn thô thiển) chứ kg phải bà vợ đã quá quen và có mùi bếp núc, đầu toc bù rồi tất bật lo việc nhà gồm cả hầu hạ chồng và chăm lo cho con cái thì chắc chắn anh ta SẴN LÒNG lắng nghe, thông cảm và giúp đỡ. Anh hùng kg qua ải mỹ nhân nhưng lại luôn bỏ qua kg thèm đếm xỉa đến vợ nhà. (Đây là ý kiến của bà xã nhờ đưa lên và tôi kg dám cãi, hihihi).
  • Hồ Than Thở
    13Thích  
    09/12/2013 15:24
    Ông bà xưa nói rất đúng: Đồng vợ, đồng chồng tát biển Đông cũng cạn. Còn nếu như sống theo công thức:Tiền vợ, tiền chồng (hồn ai nấy giữ) thì tát...cái lu cũng không cạn!
Ông Phạm Anh Duy, giám đốc Công ty Tư vấn tâm lý Duy Anh:
“Than” cũng phải có nghệ thuật
Để có được tiếng nói chung, cả vợ chồng cần có sự điều chỉnh và hiểu về tâm lý của người kia. Với chị em, cũng nên bày tỏ tâm tư, tình cảm của mình để được chồng hiểu, chia sẻ, cùng vun đắp hạnh phúc gia đình và tránh bị ức chế khi một mình ôm khư khư mọi việc. Tâm lý đàn ông thường không thích nghe than thở, kể lể; chính vì vậy, đôi khi các chị phải có một chút nghệ thuật “than”: phải biết than đúng lúc, đúng chỗ, đúng cách.

Nước mắt nàng dâu

Liệu còn có con đường nào khác cho tôi?

Thứ Ba, 03/12/2013 10:31

Tôi đứng quay lưng lại nên mẹ không thấy tôi khóc. Cứ nghĩ đến cảnh mai mốt mẹ phải về lại quê thui thủi một mình, tôi lại không thể cầm lòng. Cách đây mấy hôm, mẹ chồng và chồng tôi đã bỏ đi. Lý do họ đưa ra là không quen với mùi trầu thuốc, mùi rơm cỏ của mẹ tôi.

“Lần này nữa thôi nhé, có muốn phụng dưỡng thì đem nhau về dưới ấy, tôi là tôi không thể chung đụng với mẹ cô đâu”- mẹ chồng tôi vừa xếp quần áo vừa đay nghiến. Trong khi đó, Trọng cũng vừa loay hoay tìm giày dưới gầm giường, vừa càm ràm: “Bực chết đi được. Sao không để cho tôi yên ổn vậy. Tôi đã nói rồi, em có muốn hiếu thảo thì cho tiền, chớ rước lên đây phiền phức quá”. Tôi bấm bụng làm thinh vì biết nếu cãi lại thì sẽ ầm ĩ nhà cửa.
Mẹ tôi năm nay đã ngoài tám mươi. Mấy năm trước mẹ ở với thằng út nhưng nó bệnh rồi mất, cô em dâu bỏ về nhà cha mẹ ruột. Mẹ ở một mình, lúc bình thường thì không sao nhưng khi trái gió trở trời... Cứ nghĩ đến đó, tôi lại không cầm được nước mắt. May là có anh bạn ở cạnh nhà qua lại coi ngó, thuốc men nhưng người ta là người dưng, làm sao bằng con ruột?
Mỗi lần tôi nói rước mẹ lên ở cùng thì Trọng lại hầm hứ: “Em bỏ ý nghĩ đó đi. Nhà cửa chật chội, sinh hoạt đắt đỏ, không khí ô nhiễm, rước lên làm gì?”. Tôi nằn nì: “Nhưng để mẹ dưới đó, em không yên tâm. Bà nội của mấy đứa nhỏ ít tuổi hơn mẹ nhiều mà đã yếu như vậy, huống hồ gì mẹ đã tám mươi...”. Nhưng Trọng khăng khăng: “Nếu muốn báo hiếu, em có thể mướn người ở với mẹ chớ rước lên đây thì dứt khoát không”.
Tôi thuê người ở với mẹ nhưng không có tôi, mẹ lại cho người ta về với lý do “chi cho tốn kém vậy?”. Hai, ba lần rồi thôi, tôi đành phải để mẹ ở một mình. Nhưng cứ nghĩ đến mẹ, tôi không thể nào có được một giấc ngủ ngon. Hôm rồi anh bạn hàng xóm gọi điện thoại: “Bà yếu quá, chắc ăn uống thất thường. Hay là cô đón bà lên bồi dưỡng một thời gian...”.
Và lần này, trước sự kiên quyết của tôi, chồng và mẹ chồng tôi đã bỏ sang nhà người chị chồng “tá túc”. Chẳng biết họ nói gì mà chị chồng gọi điện thoại nhiếc móc: “Nhà tôi chớ không phải khách sạn đâu đấy nhá. Cô mau mau thu xếp để còn đón mẹ về”. Tôi nói với chị cho tôi thêm thời gian vì mẹ tôi rất yếu, để mẹ về quê, tôi không đành lòng. Chị dấm dẳn: “Tôi biết là cô hiếu thảo nhưng cũng phải nghĩ tới mẹ chồng chứ? Con gái lấy chồng rồi mà cứ be be mẹ ruột là sao?”.
 
 


... “Nước sôi rồi kìa con”- mãi suy nghĩ mà tôi không thấy cái ấm nước đang sôi ùng ục, tràn cả ra bếp. Tôi luýnh quýnh tắt bếp, lau nước mắt. Mẹ tôi hỏi: “Thằng chồng con đâu mấy bữa nay mẹ không thấy?”. “Dạ, ảnh đi công tác rồi mẹ à, lâu lắm mới về”- tôi nói cho mẹ yên lòng.
Mấy bữa nay, nhà chỉ có mấy mẹ con, bà cháu, tôi thấy thoải mái vô cùng. Sáng sớm tôi đi chợ, chuẩn bị đồ ăn, bắc nồi cơm; trưa về mẹ con quây quần. Buổi tối thì có thêm hai đứa nhỏ, chúng tranh nhau bóp tay, bóp chân cho ngoại, kể chuyện ở trường cho ngoại nghe... Tôi nhìn cảnh ấy mà cứ ước ao được ở bên mẹ mãi như vầy...
Tôi lấy chồng đã 15 năm. Cuộc hôn nhân của tôi thật ra cũng là bất đắc dĩ. Chúng tôi làm chung công ty, tôi để ý thương Trọng nhưng anh lại yêu một người khác. Khi cô gái ấy đi lấy chồng, anh vì quá đau khổ mà quay sang tôi. Trong một lần anh đến nhà trọ, tôi đã giữ anh lại. Sau buổi tối ấy, tôi có thai. Ba mẹ anh nhất quyết không chịu cưới vì cho rằng tôi hư thân, mất nết. Cái bụng ngày càng lớn, tôi đành phải theo không người ta. Đến khi con gái đầu lòng 3 tuổi, tôi mới được Trọng dắt về quê lạy tạ, xin lỗi ông bà tổ tiên.
Không chính thức nhìn nhận tôi nhưng sau khi ba chồng tôi mất, mẹ chồng tôi lại dọn vào Nam, nhất quyết đòi ở chung với chúng tôi vì Trọng là con trai út. Ngôi nhà cấp 4 mà tôi cất tạm trên miếng đất mua bằng tiền dành dụm của mười mấy năm đi làm đã được mẹ chồng và các anh chị chồng tôi bỏ thêm tiền để sửa lại. Sau đó chồng tôi đi làm giấy tờ đứng tên anh ấy; trong đó nói rõ, mẹ và các anh chị chồng tôi là đồng sở hữu. Tên tôi không được nhắc tới. Tôi thắc mắc thì anh bảo: “Theo quy định, tên anh thì mặc nhiên là của em rồi, để vô làm gì?”.
Tôi tin anh nên không hỏi thêm nhưng đã mấy lần, khi nhà đất lên giá, mẹ chồng tôi đã bóng gió xa gần về việc bán nhà để đưa tiền lại cho các anh chị chồng tôi làm vốn. Tôi không đồng ý vì bán nhà rồi, biết số tiền họ đưa lại cho tôi có đủ kiếm một chỗ ở hay không? Có lẽ vì vậy mà không chỉ mẹ và anh chị em chồng mà cả Trọng cũng kiếm chuyện với tôi. Chỉ đến khi tôi phát hiện Trọng cặp kè với cô bạn đồng nghiệp và dọa ly hôn thì anh mới để yên, không nhắc đến chuyện bán nhà nữa.
Chuyện đó xảy ra đã hơn 1 năm và kể từ đó, quan hệ giữa chúng tôi không còn như trước. Cứ mỗi lần nghĩ đến cảnh Trọng ăn nằm với người khác, tôi lại thấy ghê tởm. Chính vì vậy, mỗi khi anh đòi gần gũi, tôi lại né tránh. Và bây giờ, lần nào cũng vậy, trước khi chuyện đó xảy ra, bao giờ tôi cũng ăn vài bạt tai mới chịu để yên cho anh dày vò...
Chuyện đó cộng với chuyện của mẹ khiến tôi cứ suy nghĩ. Hay là bán nhà? Nhưng lỡ bán xong, họ ôm tiền đi hết, chẳng đưa đồng nào thì mẹ con tôi biết làm sao? Dù sao thì tôi cũng đã đổ biết bao công sức để tạo dựng ngôi nhà này, nếu họ mưu mô, làm sao tôi đối phó?
... “Hình như có cái gì khét rồi kìa con”- mẹ tôi lại nhắc. Con cá chiên bị đen một bên. Tôi luýnh quýnh tắt bếp. Ngay lúc đó, có điện thoại của Trọng. Tôi ngần ngừ mãi mới bắt máy. Vừa nghe giọng tôi, anh đã nói ngay: “Chừng nào bả về?”. Tôi bực mình, sẵng giọng: “Bả nào?”. “Thì bà ngoại của mấy đứa nhỏ. Về sớm sớm đi, tôi với mẹ ở bên này cũng bực mình lắm rồi, tự dưng có nhà mà phải đi lang thang”.
Tôi bước ra trước nhà để mẹ không nghe thấy. Tôi nói với Trọng: “Anh kêu người bán nhà đi. Em sẽ tìm chỗ khác, rước mẹ lên ở chung”. Trọng hét lên: “Cái gì? Cô điên hả? Chăm sóc một bà già đã muốn chết rồi, thêm một bà già nữa, chắc đem chôn tôi luôn quá”. Tôi bảo: “Em không có điên. Chỉ có người điên mới bỏ mặc mẹ mình đau yếu, bệnh hoạn...”.
Nói rồi tôi cúp máy. Không đầy 30 phút sau đã thấy Trọng xồng xộc phóng xe về. Anh đi thẳng vào chỗ mẹ tôi: “Vợ con đòi bán nhà rước mẹ lên ở chung. Có phải đó là ý của mẹ?”. Mẹ tôi ngơ ngác. Tôi kéo Trọng ra phòng khách: “Sao anh lại có thể ăn nói như vậy với mẹ? Đó là ý của em. Anh nghe rõ đây: Mẹ sẽ ở với em; còn anh muốn ở với ai thì tùy ý”. “A, con này giỏi...”- Trọng vung tay lên nhưng tôi né kịp. Tôi chụp cái bình trà trên bàn quăng xuống đất: “Anh muốn gì? Tôi chịu đựng anh đến đây là đủ rồi. Ly dị đi”.
Có lẽ Trọng không ngờ tôi lại phản ứng như vậy nên anh ta khựng lại: “Cô muốn ly dị à? Thế thì cứ làm đơn đi, tôi sẽ không ký xem ai xử cho cô?”. Nói rồi Trọng đi xuống bếp. Mẹ tôi đang ngồi lặng lẽ khóc. Có lẽ nhìn thấy cảnh tượng ấy, anh không nỡ nói gì nên quay ra bảo tôi: “Cô liệu mà thu xếp, cuối tuần tôi với mẹ về đấy”. Nói rồi anh phóng xe đi, chẳng chào hỏi ai.
“Thôi, để mẹ về...”. Mẹ tôi run rẩy khóc. Tôi không cho mẹ xếp quần áo vô giỏ xách. Tôi đã nhất quyết rồi. Cuối tuần này họ về thì mẹ con tôi sẽ đi. Tôi đã nhờ người hỏi dùm chỗ trọ. “Nhưng mà chị dọn ra ngoài, họ sẽ chiếm nhà mất?”- cô nhân viên của tôi lo lắng.
Đó chính là điều tôi sợ nhất. Tôi biết nhà chồng tôi mưu mô, việc lấy hết tài sản của tôi là điều trong tầm tay của họ. Còn chồng tôi nữa. Tôi không hi vọng gì vào anh bởi bao nhiêu năm chung sống, hạnh phúc mà anh đem lại cho tôi chỉ tính được bằng giờ... Tôi không bao giờ muốn lựa chọn giữa chồng và mẹ nhưng chính chồng và gia đình chồng đã ép tôi vào con đường này.
Liệu còn có con đường nào tốt hơn cho mẹ con tôi không?
Mai Thảo

Thứ Hai, 9 tháng 12, 2013

LOA PHƯỜNG : Đôi lời với ông Dương Trung Quốc - đại biểu Quốc h...

LOA PHƯỜNG : Đôi lời với ông Dương Trung Quốc - đại biểu Quốc h...: Loa Phường Đại biểu Quốc hội Dương Trung Quốc Định không viết, nhưng khó chịu với loại người không làm tròn bổn phận nhưng lại thích...

VẤN ĐỀ NỮ HỌC TRONG GIA ĐÌNH

Đạm Phương với vấn đề nữ học: Giáo dục phụ nữ và trẻ em trong gia đình

(Đoàn Ánh Dương)

Tiểu luận này không có tham vọng bao quát sự nghiệp đồ sộ ấy, chỉ đi vào một hạt nhân quán xuyến tư tưởng và hành động của Đạm Phương, là vấn đề nữ học, từ quan niệm giáo dục, các lĩnh vực giáo dục đến thực tiễn hoạt động giáo dục phụ nữ ấy, ngõ hầu có thể chỉ ra đóng góp và vị trí của Đạm Phương trong lịch sử tiếp cận vấn đề nữ tính và nữ quyền ở nước ta ở những bước khởi đầu của nó.
Vấn đề nữ học được Đạm Phương đặt ra lần đầu trên Nam phong(1), số 43, ra tháng 1/1921, khởi thủy là bức thư bà gửi cho chủ bút Phạm Quỳnh, có lẽ là nhân loạt trao đổi được khởi đi từ bài viết của Phạm Quỳnh bàn về vấn đề phụ nữ: Sự giáo dục đàn bà con gái, số 4, ra tháng 10/1917, dẫn tới các trao đổi sau đó trên Nam phong, chắc cũng còn do những đàm luận trực tiếp với Phạm Quỳnh nhân chuyến ông vào Huế sau đó, có được thảng hoặc nhắc đến trong du ký Mười ngày ở Huế, đăng Nam phong, số 10, ra tháng 4/1918. Song căn nguyên trực tiếp, xuất phát từ ý kiến của Phạm Quỳnh trong một bài viết như một lời hỏi ngỏ:Đàn bà con gái nước ta có nên học mới không?, mà trước đó đã khơi nguồn cho bài đáp của Nguyễn Bá Học: Thư trả lời ông chủ bút Nam phong về vấn đề nữ học, đăng trênNam phong, số 40, ra tháng 10/1920, là bài trực tiếp đã gây cảm hứng cho Đạm Phương xuất bút. Dựng một bối cảnh vài ba năm như thế để thấy, ngoài những tác động tức thời, Nam phong và ông chủ bút Phạm Quỳnh chắc có ảnh hưởng đáng kể đến Đạm Phương, để một phụ nữ đã gần bốn mươi tuổi, học hạnh tinh nhuần đầy đủ, song trước đó chủ yếu sáng tác văn thơ bằng chữ Hán và tham dự các sinh hoạt văn học cung đình như thói thường của các bậc văn tài trong hoàng tộc, nhận thấy vai trò của báo chí quốc ngữ trong cuộc canh tân dân tộc, để gần như ngay sau đó, tham gia tích cực vào các hoạt động báo chí và đời sống xã hội, bắt đầu từNam phong, sau trải cộng tác với nhiều báo và tạp chí khác, từ vấn đề phụ nữ mở sang nhiều vấn đề thiết hữu khác.

Ba năm sau bài viết trên Nam phong, Đạm Phương viết tiếp một bài báo, cũng dưới nhan đề này, Vấn đề nữ học, đăng trên Trung Bắc tân văn(2), số ra các ngày 19&20/3/1924, để đáp lại một số ý kiến bấy giờ bác chuyện giáo dục phụ nữ, đồng thời có bổ sung thêm một số quan điểm mới trong việc giáo dục phụ nữ được bà đề xuất trong bài trước. Ngày 15/6/1926, khánh thành Nữ công học hội tại kinh thành Huế, trong tư cách Hội trưởng, diễn văn của bà cũng hết sức nhấn mạnh đến vấn đề nữ học. Đến năm 1929, một lần nữa vấn đề này được bà trở lại, nhân trả lời trưng cầu của báo Phụ nữ tân văn(3) xung quanh tôn chỉ của báo, ở phạm vi rộng lớn hơn: vấn đề phụ nữ. Tuy vậy, bài trả lời của bà, đăng trên Phụ nữ tân văn, số 5, ra ngày 30/5/1929, hầu như cũng chỉ xoay quanh vấn đề nữ học. Tháng 8 cùng năm, Đạm Phương bị thực dân Pháp bắt rồi thả mà không làm án. Tháng 9, bà xin thôi chức Hội trưởng Nữ công học hội. Sau đấy, hoạt động báo chí và xã hội của bà thuyên giảm dần, công việc chủ yếu tập trung vào việc biên soạn sách vở. Như vậy, có thể nói, những năm giao thời cũng là khoảng thời gian bà hoạt động sôi nổi nhất trên trường văn trận bút, trở thành nữ ký giả có bút lực đáng khâm phục trong nữ giới nước nhà, với việc cộng tác thường xuyên với hàng loạt các báo có tiếng tăm ở cả ba kỳ, như Nam phong, Tiếng dân, Phụ nữ tân văn, thường xuyên viết cho chuyên mục Văn đàn bà trên Hữu thanh(4), chuyên mục Lời đàn bà trên Trung Bắc tân văn; đồng thời, hoạt động tích cực trong phong trào Nữ công học hội, biên dịch, biên soạn và sáng tác nhiều tác phẩm phục vụ công việc giáo dục nữ giới. Tiểu luận này không có tham vọng bao quát sự nghiệp đồ sộ ấy, chỉ đi vào một hạt nhân quán xuyến tư tưởng và hành động của Đạm Phương, là vấn đề nữ học, từ quan niệm giáo dục, các lĩnh vực giáo dục đến thực tiễn hoạt động giáo dục phụ nữ ấy, ngõ hầu có thể chỉ ra đóng góp và vị trí của Đạm Phương trong lịch sử tiếp cận vấn đề nữ tính và nữ quyền ở nước ta ở những bước khởi đầu của nó.

1. Quan điểm về nữ học

Đạm Phương có một quan niệm thống nhất và rõ ràng về vấn đề nữ học. Khởi đầu của quan niệm ấy, trong bài viết trên tạp chí Nam phong, bà cho rằng: “Nay cái vấn đề nữ học thật là một sự rất quan trọng thứ nhất trong mấy nghìn năm của nước ta… Nay sự học vấn của con gái là cốt để bổ ích thêm trí thức tư tưởng cho con người biết lo xa nghĩ rộng, khỏi bị mê hoặc ám muội như trước; đã là người thời biết cho đủ tư cách làm người, cuộc sinh tồn cạnh tranh là chung cả nhân loại có phải riêng chi một ai, mà người làm được người làm không được… Người đàn bà cốt phải có đức hạnh làm bản, nghĩa ấy dầu cho thiên cổ bất dịch, không những từ đây về trước đã thế, nhưng dầu cho muôn ức nghìn năm nữa về sau, cũng không có thể thay đổi bao giờ, vậy cho nên học hạnh kiêm ưu mới là danh giá; còn như học mà vô hạnh, chính là danh giá tội nhân, chớ có phải học giới danh giá đâu, mà người đời bình phẩm cho hư tiếng tân học của nữ giới (ĐAD nhấn mạnh)”(5). Vấn đề nữ học mà Đạm Phương nói ở đây là vấn đề “tân học của nữ giới”, cái mà Phạm Quỳnh có ý cổ xúy còn Nguyễn Bá Học thì có ý khuyên ngăn, sợ rằng “sở học phi sở dụng”(6). Trong bài viết khởi đầu này, Đạm Phương đặt thế đối sánh “trí” với “đức”, giáo dục cái “đức” (tức phẩm hạnh) thì nền cựu học cũng đã làm rồi, nay nhất thiết phải bổ túc thêm cái “học vấn” (tức tri thức Âu Tây) của nền tân học cho người phụ nữ. Ở đây, bài viết mới chỉ đặt ra cái sự cần thiết của giáo dục phụ nữ và đề xuất nội dung cơ bản của nền giáo dục ấy.

Đến bài viết trên Trung Bắc tân văn, Đạm Phương đã bắt đầu chú trọng đến việc đòi hỏi sự công bình cho giáo dục nữ nhi so với nam nhi. Bà viết: “Đương buổi phong trào tiến hóa, dân trí khai thông, khoa học mở mang, trình độ thay đổi, người ta ở trong xã hội cũng ví như các thứ hoa thảo, tùy theo thời tiết mà sinh trưởng, đã không trái đặng lẽ tự nhiên của thời tiết, mà lại phải vận động cho hợp với lẽ sinh trưởng ấy nữa… Bởi vậy mà sự giáo dục học thức của con trai làm sao, thì của con gái cũng phải có làm vậy (ĐAD nhấn mạnh); đứa con gái tương lai thành nhơn, là một người đàn bà có công lớn đối với xã hội, vì người đàn bà có chịu cái thiên chức về sự sinh dục, gây nên nòi giống cho nhơn loại. Bổn phận người đàn bà, lại có cái trách nhiệm nặng nề khó nhọc, gánh vác việc gia đình, để cho người đàn ông khỏi phần nội cố, mới rảnh mình mà hiệu lực với bang quốc; cái trách nhiệm ấy, cái thiên chức ấy, nếu không có học thức giáo dục, thì khó lòng làm cho hoàn toàn nghĩa vụ đặng”(7). Chính ở chỗ này, soi rọi vào đời sống rối ren đương thời, Đạm Phương đã đề xuất được quan điểm nữ học có thể nói là rất mới mẻ, được biện luận với chủ kiến rõ ràng: sự giáo dục trong gia đình mà bà gọi là “gia đình giáo dục”. Bà lập luận về điều này như sau: “Có người nói rằng: ngày xưa con gái không có học thức mấy chút, mà người mẹ hiền, người con thảo, người vợ thuận cũng không thiếu; ngày nay, có học thức mà hay hư nết, là nghĩa làm sao? Xin thưa rằng: cái đó tại phần giáo dục gia đình hết thảy (ĐAD nhấn mạnh); học đường giáo dục, là cốt để giúp thêm tư tưởng tri thức cho người, sau ra với đời cho khỏi sự lầm lỗi; còn gia đình giáo dục là gây nên cái tâm tính cho con người (ĐAD nhấn mạnh), tâm tính với học thức thực không ăn thua gì nhau, chỉ có quan hệ một điều: là phải nhờ ở chỗ học thức, mà nhắc tâm tính siêu việt lên cho nhẹ nhàng; nếu tâm tính đã hỏng dẫu có học thức, lại càng như giúp sức cho cái dục vọng lên cao đó mà thôi”(8). Nói cách khác, trong khi một số bậc thức giả quan tâm đến vấn đề nữ học, chủ trương học đường giáo dục cho nữ giới, thì bà lại chủ trương gia đình giáo dục. Bởi với bà, tâm tính là cái thứ nhất, là cái nền tảng, học thức là cái bổ trợ vào đó, làm cho sự giáo dục phụ nữ được trở nên hoàn toàn. Ngoài việc thực hiện được nam nữ bình quyền, nó còn giúp cho phụ nữ thực hiện thiên chức của mình. Bà cho rằng: “nhà nước sở dĩ đặt trường nữ học, cũng vì lấy cái lẽ công bình đã nhắc cái trình độ con trai lên cao, thì bên con gái phải đưa lần bước đường đi tới, để cho nó hợp với nghĩa tương đương, có tương đương mới tương tri, có tương tri mới tương phò; tri thức xấp xỉ với nhau, thì sự đề huề mới có được”(9). Cũng còn bởi, theo Đạm Phương, “nữ giới mà có học thức, là ích lợi chung trong xã hội chớ có riêng vì người đàn bà có lợi, mà để thiệt cho ai. Sắp đặt việc nhà cửa, cho hợp với thời thế văn minh, chẳng cũng làm phương tiện cho sự khai thông dân trí một cái “tiệp kính” (đường tắt - ĐAD chú) ru. Cái tiệp kính mà tôi nói đây, là cái tiệp kính về đường dạy dỗ trẻ con, đứa trẻ con tương lai thành nhơn, phải có học thức, như là vệ sinh, cách trí, luân lý, địa dư, toán pháp,.v.v… mà khi còn ở trong gia đình đã được lược hiểu thiển cận, khi đến trường lợi cho công giáo dục ở học đường biết bao nhiêu”(10). Như thế, gia đình giáo dục, còn là cái đi trước học đường giáo dục, vừa giúp phụ nữ thuần toàn vừa giúp con trẻ mau khôn lớn, cũng bởi tình mẫu tử thường đậm đà và sự gần gũi thường xuyên cũng khiến người mẹ dễ thấu đạt được tính tình của con cái mà dễ bề uốn nắn. Do hai lẽ đó, Đạm Phương khẳng định: “Phàm cái tâm tính con người manh mối ra lúc ban đầu, là toàn có ảnh hưởng về sau hết thảy; vì những lý lẽ thế mà phải nên tô bồi cho nền nữ học, để nâng đỡ lấy cái hạng nhân loại tương lai – ĐAD nhấn mạnh”(11).

Chính ở chỗ muốn nâng đỡ cho nhân loại tương lai, Đạm Phương đòi hỏi những bậc tân học, mà thực chất cũng là tự nhiệm chính mình: “lấy lý tưởng mới, chắc có một cuộc tổ chức trong bụng rằng: xã hội ta sau này tiến hay thoái, gia đình ta sau này thịnh hay suy, tức là bọn thiếu niên mà chúng ta đương làm người hướng đạo đây, vì ta làm người bản lề, tiếp giáp mới cũ trong khoảng thời đại đổi thay, cái nề nếp trước chưa phai lạt mấy chút, mong tô dồi thêm phong hóa mới cho được thêm màu; lại nên tự phụ rằng: ta là người đứng làm môi giới cho hai cái văn minh mới cũ được dung hóa với nhau, người trong nước còn mờ tối chỗ nào, ta sẽ khai đạo cho hợp với trình độ tiến hóa, mà không hại đến phong tục của nước nhà”(12). Quan điểm về giáo dục của Đạm Phương ở chỗ này có hơi hướng chủ trương của Dương Vụ phái bên Trung Quốc hồi cuối thế kỷ XIX, có được ghi lại trong Khuyến học thiên của Trương Chi Động (1837-1907), đề xướng “cựu học vi thể, tân học vi dụng”, mà nội hàm của nó là giữ cái truyền thống luân lý Trung Hoa làm căn cốt để từ đó học tập khoa học phương Tây bổ trợ vào việc canh cải đất nước. Song không dám đoan chắc lúc bấy giờ (1924), sách này của Trương Chi Động đã được biết tới ở Việt Nam chưa. Chỉ mới biết, đến năm 1929, Phan Khôi đã có ý phê bình mạnh mẽ khuynh hướng này trong công trình Cái ảnh hưởng của Khổng giáo ở nước ta, đăng dài kỳ trên Thần chung, từ số 213 (ra ngày 1/10/1929) đến số 249 (ra các ngày, 17&18/11/1929)(13). Tuy nhiên, đến phần kết luận của bài viết này, thì nhận định có lẽ riêng thuộc về Đạm Phương, ở tư tưởng mang màu sắc nữ quyền trong các ý kiến và đề đạt: “Người ta phải nên hiểu cái tôn chỉ của sự giáo dục, tại làm sao mà trước kia sự dạy dỗ đàn bà con gái lại là phần riêng của gia đình, mà nay việc dạy dỗ đàn bà con gái, cũng có thuộc quyền quốc gia đào tạo nữa, thì đừng nên dắt tới lôi lui mà thêm hoài công. Thực chẳng qua cái lòng thủ cựu của người mình, có ẩn cái máu áp chế ở trong, đàn ông chỉ ưng áp chế đàn bà, chủ nhà ưng áp chế đầy tớ; cái lòng thủ cựu không hết, là vì cái máu áp chế chưa tiêu – ĐAD nhấn mạnh” (14).

Ở trên là tìm hiểu quan điểm nữ học qua hai bài biết của Đạm Phương, một do sự “nhiệt thành” với nữ học mà soạn, một do ý muốn “bàn lại một bài để cho rõ lẽ” mà thành. Ngoài vấn đề thời gian, có lẽ tính chất luận thuật trực tiếp đã khiến bài viết thứ hai hệ thống, mạch lạc và thuyết phục hơn rất nhiều, gần như đã thể hiện đầy đủ quan điểm nữ học của Đạm Phương, điều mà sau này, hầu như chỉ được bổ sung thêm ở thái độ nồng nhiệt hơn trong các luận bàn về nữ tính và nữ quyền. Trong quan điểm ấy, Đạm Phương thấy sự cần thiết của học đường giáo dục thuộc quyền quốc gia đào tạo, nhưng trước nhất, bà khẳng định vai trò quan trọng của gia đình giáo dục. Giáo dục trong gia đình, với Đạm Phương, (1)/ đảm bảo cho việc thực hiện đầy đủ thiên chức phụ nữ, (2)/ hậu thuẫn tới việc giáo dục trẻ em, và (3)/ là bước chuẩn bị cho giáo dục học đường, giáo dục xã hội. Tất cả những ưu điểm ấy, nếu được thực hành một cách đầy đủ, sẽ tôn cao vị trí của phụ nữ trong gia đình và xã hội.
Tuy nhiên, xúc tiến các hoạt động giáo dục nhờ báo chí, đáng chú ý, và cũng là nơi thể hiện rõ nhất sự khác biệt trong quan điểm nữ học của Đạm Phương, là mấy bài trực diện vào vấn đề trinh tiết và tự do hôn nhân. Bởi đây chính là mâu thuẫn gay gắt nhất giữa cái mới và cái cũ, là điểm khó có thể điều hòa, dù xuất phát từ chủ trương dung hòa tân cựu, đồng thời cũng là nơi ghi nhận rõ nhất những biểu hiện về sự tiếp cận đối với các vấn đề nữ giới mới được hình thành trong xã hội Việt Nam. Trong số các tư liệu hiện mới sưu tầm được, Đạm Phương có hai bài trực tiếp bàn về chữ trinh (Chữ trinhHữu thanh, số 17, ra ngày 01/04/1922; Cái lòng trinh tiết của người đàn bàTrung Bắc tân văn, số ra ngày 09/10/1925), một bài bàn về tình ái (Bàn về chữ ái tìnhTrung Bắc tân văn, số ra ngày 16/10/1925) và một bài bàn về tự do hôn nhân (Tự do kết hônTrung Bắc tân văn, số ra ngày 20/12/1924). Thực ra đây là một vấn đề khó, nhưng không thể né tránh. Bởi sự lên án của xã hội bấy giờ đối với việc giáo dục phụ nữ, cũng phần nhiều là do vấn đề ái tình tự do, có lúc hiển hiện thành thói dâm ô, lúc bấy giờ mà ra cả. Với vấn đề phức tạp như vậy, một mặt Đạm Phương đào sâu vào các hoàn cảnh xã hội để phân biệt phải trái trắng đen, một mặt đào sâu vào quan niệm về ái tình tự do mà đặng phân tích lẽ hơn thiệt trong mỗi lựa chọn. Nếu như ở phương diện thứ nhất, bà biện bác cho việc càng cần thiết phải có nền giáo dục đầy đủ, hoàn bị cho nữ giới, tránh sự a dua, đua đòi, lợi dụng điều tân tiến mà phá hoại trật tự, làm hại luân lý, như thực tế đã có xảy ra; thì ở phương diện thứ hai, bà quay về ủng hộ quan điểm đạo đức cổ truyền: chữ trinh là quan trọng, đừng để những thói đời dung tục làm mờ ám dần luân thường đạo lý. Liệu đây có phải là một bước lùi trên con đường đấu tranh cho nữ quyền của Đạm Phương? Nó là biểu hiện của sự thiếu thống nhất trong quan niệm canh tân của Đạm Phương hay là biểu hiện của tính chất “thể dụng” như trên đã liên tưởng đến? Và như thế phải chăng Đạm Phương vẫn tư duy trên nếp cũ, quan điểm tiếp cận các vấn đề về nữ giới của Đạm Phương đã bộc lộ hạn chế, dù là ở vấn đề gai góc nhất? Câu chuyện thực ra không hẳn có thể dễ dàng đem đến câu trả lời thích đáng. Bởi sau những phát ngôn của Đạm Phương, trong những năm giao thời của thập niên 20 và 30 của thế kỷ trước, Phan Khôi vốn nổi tiếng là người đổi mới cực đoan, quyết liệt, vẫn phải né tránh câu trả lời trực tiếp cho vấn đề trinh tiết, dù những phê phán các chuẩn mực đạo đức phong kiến đã khá rõ ràng(15). Trong bài viết Chữ trinh, cái tiết với cái nết (Phụ nữ tân văn, số 21, ra ngày 19/09/1929), Phan Khôi cho rằng: “trinh là một cái nết”, “nhưng về sau, người ta uốn nắn nó ra thành một cái tiết”, sự khác biệt nằm ở chỗ trinh là cái nết thuộc về chủ quan “mình vì cái ý chí, cái phẩm giá của mình mà giữ trinh” chớ không phải vì ai khác, trong khi ngược lại, “tiết là một cái dấu tỏ ra mình đã làm hết bổn phận của mình đối với người mà mình thuộc về”(16). Từ đó Phan Khôi kêu gọi: “đàn bà nước Nam ta nếu muốn giữ lấy nhân cách mình trên nền tự do và độc lập thì hãy phản đối cái tiết trinh, mà thứ nhứt là cần phải trau giồi lấy cái nết trinh”(17). Nếu đặt quan niệm của Đạm Phương bên cạnh Phan Khôi, sẽ thấy cái chữ trinh mà bà sử dụng đồng nhất với cái nết trinh mà học giả Phan Khôi biện bạch. Như vậy, ủng hộ cho nết trinh và lên án tiết trinh, ở đây đã có một sự phân biệt rất vi tế trong vấn đề phụ nữ: nết trinh không phải là tính cách tiên thiên của phụ nữ (caractère des femmes), mà do phải nhờ hàm dưỡng mà có được, lại chỉ riêng có ở phụ nữ, nên thuộc về nữ tính (sexe féminin), theo đó, bảo vệ nết trinh và lên án tiết trinh lại là một hành động có tính nữ quyền (féminisme). 

So với Phan Khôi, Đạm Phương chưa có được sự phân biệt rốt ráo như vậy, song sự phân biệt giữa nữ tính và nữ quyền hầu như cũng đã được định hình. Đó là một bước tiến đáng kể trong các tiếp cận vấn đề phụ nữ ở Việt Nam bấy giờ. Nhất là khi, cách giải quyết vấn đề nữ học của Đạm Phương luôn đặt trên cả hai nền tảng ấy. Đạm Phương đấu tranh cho cả nữ tính và nữ quyền, nữ tính là cơ sở để hoạch đắc nữ quyền, và xét đến cùng, nữ quyền trong quan niệm của Đạm Phương chủ yếu mới được khuôn gọn trong chủ nghĩa bình quyền (égalitarisme), đòi hỏi quyền bình đẳng giữa nam và nữ. Nó là lý do để cho gia đình giáo dục luôn có vị thế đáng kể hơn rất nhiều so với học đường giáo dục và xã hội giáo dục. Nó cũng là lý do để cho trong các vấn đề nữ học thì giáo dục con gái và nhi đồng luôn dành được nhiều nhất sự quan tâm ưu ái của bà. 


2. Các lĩnh vực của nữ học và sự hiện thực hóa giáo dục phụ nữ

Khi Phụ nữ tân văn ra đời (số 1, ngày 02/05/1929), trả lời cuộc trưng cầu ý kiến về vấn đề phụ nữ của người sáng lập tòa báo, bà Nguyễn Đức Nhuận, thư trả lời của Đạm Phương, đăngPhụ nữ tân văn, số 5, ra ngày 30/05/1929, đặc biệt nhấn mạnh đến vấn đề nữ quyền và các lĩnh vực của nữ học để thực hiện được cuộc đấu tranh cho nữ quyền ấy. Thư viết: “như cái vấn đề phụ nữ là một cái vấn đề quan hệ cho vận mạng chung của chị em trong nước, ai cũng phải đóng góp một phần, vì nghĩa vụ, vì quyền lợi mà tỏ bày ý kiến của mình cho chị em biết, để lấy cái số đông nhất mà làm tiêu chuẩn, thì tôi đây không khi nào dám quên cái nghĩa vụ ấy. Vậy xin có mấy điều kiến giải của ngu ý như sau nầy:

1/ khai đạo trí thức.
2/ nữ công thực nghiệp.
3/ phụ nhơn chức vụ.

Trong ba điều ấy, chúng tôi đã nhiều lần bàn bạc và thực hành thí nghiệm, song chưa được hiệu quả gì cho mỹ mãn, bởi vậy mà cái chế độ bất bình đẳng không sao đả phá cho đặng. Đáng buồn tủi thay! Người đàn bà ngày nay là thế nào? Là cần phải trực tiếp với xã hội, bởi cái tình thế xui nên, chị em ta không được hưởng thú êm đềm như trước nữa, ngoài gia đình phận sự, còn cần phải mưu sự hạnh phúc chung cho nhơn loại, mà đã muốn như thế thì phải có học thức, nhiên hậu mới hành động nổi. Vậy cái thời kỳ của chị em ta ngày nay, tức là một cái thời kỳ đang đứng trong vòng huấn luyện vậy”(18).

Ba lĩnh vực cơ bản của giáo dục nữ giới mà Đạm Phương đúc kết ở trên thực ra đã được bà triển khai trước đó, nhất là trong thời kỳ bà viết cho chuyên mục Văn đàn bà trên Hữu thanh, chuyên mục Lời đàn bà trên Trung Bắc tân văn, và có nhiều hiệu quả chứ không phải như cách nói khiêm nhường ở trên. Thực sự thì, thời gian cộng tác với Hữu Thanh, những bài viết của Đạm Phương giống như một cuộc tìm đường hơn là đã hoạch định đầy đủ phương châm nữ học. Việc đầu tiên bà muốn hướng đến vẫn là vấn đề thực hiện trách nhiệm của nữ giới. Trong bài Bổn phận con gái, sau khi bình phẩm về những cơ hội đổi thay mà nữ giới có được ở thời đại mới, Đạm Phương nhắn nhủ: “không quý gì bằng sẵn có nền nếp cũ, lại thêm tư tưởng mới, mỹ thuật mới, kỹ nghệ mới, ta nên điều hòa châm trước với nhau, điều hay nên thuộc, lẽ dở nên chừa, một mai làm vợ làm mẹ người, tự lương tâm mình hỏi mình có ưng con mình giống mình không? Tôi xin vô phép trả lời rằng: không những là ưng con mình không giống mình, mà lại cũng không ưng lời thị phi can thiệp đến danh giá bổn phận nữa”(19). Thực hiện đúng chức trách, bổn phận để mà vươn lên “mở mày mở mặt với giang sơn” là một khát vọng táo bạo của Đạm Phương lúc bấy giờ. Để thực hiện được điều ấy, theo Đạm Phương, không có phương cách nào ngoài việc chịu khó trau giồi thực học. Sự thực học ấy phải hướng đến tu dưỡng tâm tính, mưu cầu công nghệ. Bởi theo bà, “chị em ta đã biết rằng: ngày nay tất cả phải có công nghệ mới sinh tồn, cho nên ôm quyển sách mà đi học, là cũng mong cho kiến thức mở mang, tùy theo tư cách mình để mà chọn lấy nghề nghiệp làm ăn…”; ấy vậy mà “trong xã hội, những người có nhiệt thành tâm huyết mong cho cuộc tiến hóa mau được vẻ vang vẫn thường than thở về đường nữ giới giáo dục hiện còn khuyết điểm, công nghệ hiện còn sinh sơ. Lại thêm lời dư luận hàng ngày chỉ trích những người đàn bà vô nghệ là tại phần không có định nghiệp mà sinh ra cả. Đã không có định nghiệp tất không có hằng sản, đã không có hằng sản tất không có hằng tâm, xin xét lại kỹ có phải bởi một lẽ thất giáo mà ra chăng?”(20). Chính vì cái ước nguyện được mở mang cho nữ giới trong hoàn cảnh vị thế phụ nữ còn thấp kém, dư luận với nữ học còn hẹp hòi, Đạm Phương mới bổ cứu sách vở Đông Tây, tìm lấy cái phương châm giáo dục nữ lưu, mà Bàn về giáo dục con gái(21) là một kết quả sơ khởi.

Từ trong những dò dẫm bước đầu này, những năm sau, nhất là khoảng 1923 đến 1926, khi viết thường xuyên cho chuyên mục Lời đàn bà trên Trung Bắc tân văn, Đạm Phương đã triển khai ở mức độ sâu rộng hơn, có chủ đề trở đi trở lại, hòng cổ võ cho vấn đề nữ học. Bà đặt chủ trương người phụ nữ: với bản thân, phải lao động để có tiền tài, thực nghiệp (Vấn đề lý tài, Trung Bắc tân văn, số ra ngày 09/01/1923; Một hiệu buôn mới mở, Trung Bắc tân văn, số ra ngày 22/05/1923), rồi cần phải cần kiệm (Cần kiệm, Trung Bắc tân văn, số ra ngày 20/01/1923; Dạy con gái nên kiệm ước làm đầuTrung Bắc tân văn, số ra ngày 27/11/1923), song cũng phải biết trang điểm (Cách trang điểm của người đàn bà thế nào là đẹp, Trung Bắc tân văn, số ra ngày 30/10/1923), phục sức (Cách phục sức của người đàn bà, Trung Bắc tân văn, số ra ngày 11/02/1924); với gia đình, phải nên chăm coi việc nhà (Người đàn bà phải nên chăn coi việc nhà, Trung Bắc tân văn, số ra ngày 25/02/1925), phải hiếu kính với cha mẹ (Trăm nết thảo làm đầu Trung Bắc tân văn, số ra ngày 14/06/1923), phải thuận hòa với chồng (Cái cảnh lạc thú trong gia đìnhTrung Bắc tân văn, số ra ngày 17/04/1923; Người đàn bà phải biết cách ăn ở với chồng, Trung Bắc tân văn, số ra ngày 28/06/1923), phải hòa mục với anh em (Đối với anh em chồng, Trung Bắc tân văn, số ra ngày 25/01/1924), rồi với con cái phải biết cách dưỡng dục (Trẻ con trong nhà phải nên dạy cho biết thứ tự cách ăn ở, Trung Bắc tân văn, số ra ngày 20/05/ và 06/06/1924; Dạy trẻ con khi giao thiệp với người ngoàiTrung Bắc tân văn, số ra ngày 11/10/1925; Cách dạy trẻ con, Trung Bắc tân văn, số ra ngày 16/01/1926); với người ngoài, khi giàu có phải rộng lượng (Người giàu đối với người nghèo, Trung Bắc tân văn, số ra ngày 04/05/1923), khi nghèo đói phải khẳng khái (Người giàu đối với người nghèo, Trung Bắc tân văn, số ra ngày 22/05/1923),… Có thể nói, hầu như Đạm Phương đã đề cập đến hầu hết các mặt của đời sống nữ giới, hướng dẫn và thúc giục nữ giới đi theo con đường chủ động lấy cuộc sống của mình, góp sức mình vào công cuộc gây dựng hạnh phúc gia đình và cải cách xã hội. Các quan điểm được triển khai trên từng lĩnh vực nhỏ này nhìn chung đều rất ôn hòa, điềm đạm, nhưng không vì thế mà kém phần mạnh mẽ và quyết liệt.

Bên cạnh báo chí, Đạm Phương cũng tham gia tích cực trong các hoạt động cổ võ cho nữ học ở Huế. Vận động thành lập Nữ công học hội và trở thành Hội trưởng, bằng uy tín của mình, Đạm Phương đã tổ chức được nhiều hoạt động cho nữ giới xung quanh học hội này. Trong bài diễn văn đọc tại lễ khánh thành Nữ công học hội, ngày 15/06/1926, bà nhấn mạnh:
“Nữ công có ích cho đàn bà đủ mọi phương diện, gây cho bọn quần thoa một cái tinh thần “tự lập”, một cái tính cách cần mẫn ham công việc, lánh sự nhàn rỗi. Nữ công chẳng những giúp cho đàn bà về đường tự lập, mà lại về đường sinh kế, và thứ nữa là cái mầm mống của sự công nghệ thực nghiệp nước nhà sau này vậy… Mong ngày nay một phần chị em hưởng thụ được chút giáo hóa Âu, Mỹ về mà sửa đổi cái nào bậy, bổ chánh cái nào khuyết, xây đắp thành một nền nữ công vẹn toàn hoàn hảo… Ấy là cái tôn chỉ thứ nhất về sự lập hội của chúng tôi là vậy”

“Một cái xã hội tốt hay là xấu là do tại gia đình tốt hay xấu, mà gia đình tốt hay xấu là do sự giáo dục của mỗi gia đình đối với mỗi cá nhơn mà tạo ra, đàn bà vẫn có một phần trách nhiệm trong cuộc tạo nhân kết quả ấy. Vì vậy mà gây dựng một cái gia đình tốt không gì bằng xây dựng một nền đạo đức luân lý cho phụ nữ thật hoàn toàn… Ngày nay cái nghĩa vụ của chị em chúng tôi là phải hô hào kèm với giữ gìn phong hóa cũ, mà cần tẩm bổ thêm tư tưởng mới, ngõ hầu vun tưới những mầm non, nụ tốt sau này” (22).

Điểm lại hoạt động của Nữ công học hội, rõ ràng đã có những hiệu quả và tác động xã hội rõ rệt(23). Việc cổ động thực nghiệp hay in sách phổ biến kiến thức chẳng hạn, trong đó phải kể đến việc học hội xuất bản được cuốn Nữ quốc dân tu tri của Phan Bội Châu, bậc trí sĩ luôn có ảnh hưởng mạnh mẽ ở Huế lúc bấy giờ. Với riêng Đạm Phương, hoạt động của hội đã đáp ứng được cả hai cách để thực hiện sự học: 1/ qua đường sách vở; 2/ qua đường thực nghiệm(24), nhất là ở con đường thứ hai. Trong khi đó, với con đường thứ nhất, ngay từ năm 1922, khi Ích hữu thư xã được thành lập, Đạm Phương đã rất quan tâm đến vấn đề biên soạn sách vở, trong bài viết Cái cảm tưởng của nữ giới đối với Ích hữu thư xã, bà đề xuất: “Người đã thâm Tây học thời đem những nghĩa lý văn minh mà dịch thành một lối văn chương trí hóa, người đã thông Hán học, thời lại đem những đạo lý cương thường mà phiên dịch ra một lối văn chương đức hóa, hoặc soạn thêm các bộ thuộc về giáo dục, thuộc về văn chương khoa học, đều lấy nền quốc văn mà phô diễn thành sách vở, khiến cho người chỉ có công học quốc ngữ trong đôi ba năm, mà cũng được thông hiểu đạo lý Tây học và Hán học vậy” (25). Sau này, chính Đạm Phương đã thực hiện một cách tích cực đề xuất đó. Nhiều bài báo sau này được bà tái cấu trúc, viết thêm một số bài có cùng chủ đề để tập hợp in thành sách. Năm 1928, công trình Bàn về giáo dục con gái của Đạm Phương được Nữ lưu thơ quán Gò Công của bà Phan Thị Bạch Vân xuất bản. Năm sau, 1929, là hai biên khảo Phụ nữ dữ gia đình và Phụ nữ dữ xã hội, cùng tiểu thuyết Hồng phấn tương tri cũng được xuất bản tại đây. Năm 1942, công trình dài hơi nhất của Đạm Phương, Giáo dục nhi đồng, được nhà in Lê Cường ở Hà Nội xuất bản. Nhìn vào các công trình này, dễ thấy vấn đề giáo dục phụ nữ và trẻ em vẫn là mối quan tâm thường trực, trọn đời của Đạm Phương. Chỉ ra phương cách để phụ nữ tự tu dưỡng bản thân, khẳng định thiên chức làm vợ làm mẹ của họ, rồi từ đó, cổ vũ cho các hoạt động hướng tới nữ quyền, hầu như đã thu hút toàn bộ suy tư của bà.

3. Định vị Đạm Phương từ bối cảnh tiếp cận “vấn đề phụ nữ” ở Việt Nam trước 1945   
Đạm Phương giữ một vị trí ra sao trong sự chuyển mình của xã hội Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX, nhất là khi vấn đề phụ nữ mà bà quan thiết luôn được xem trọng? Bởi như một phát hiện sớm của David G. Marr, ở những thập niên đầu của quá trình hiện đại hóa của Việt Nam đầu thế kỷ XX, phụ nữ và xã hội (“women and society”) trở thành vấn đề trọng tâm tập trung quanh nó nhiều vấn đề quan thiết khác đang được xét lại khi truyền thống bị/được đặt trước thử thách(26). Chủ điểm “truyền thống Việt Nam trước thử thách” về sau cũng trở thành tên một chuyên luận có tiếng vang của ông(27). Trong chuyên luận này, ông khảo sát Đạm Phương chủ yếu ở phương diện hoạt động phụ nữ của bà [ở Nữ công học hội] trong các khảo sát các thảo luận về quyền phụ nữ (women’s rights) được tiến hành trên báo chí Việt Nam trước 1945, từ các bài viết của các bỉnh bút là nam giới đến các bài viết và báo chí do phụ nữ trực tiếp thực hiện(28). Khởi đi từ những quan tâm của Marr, một tiểu luận khác của Shawn McHale về địa vị của phụ nữ trong xã hội thể hiện trong các tranh luận trên báo chí Việt Nam đầu thế kỷ XX, cũng được xuất bản trong ấn phẩm của Chương trình Nghiên cứu Đông Á của Đại học Cornell về quá khứ Việt Nam(29), mà sau được tác giả phát triển thành một chuyên luận sâu rộng hơn(30). Đạm Phương không được đề cập trong tiểu luận này, dù hoạt động và các quan niệm về vai trò của các ấn phẩm đối với phụ nữ của bà là một minh chứng sáng rõ cho mối quan hệ giữa “in ấn và quyền lực” mà McHale tập trung khảo sát. Trong một khai triển khác, dù cũng chủ yếu đặt trọng tâm vào tờ Nữ giới chung(31) và Phụ nữ tân văn như McHale nhưng trong một không gian báo chí tiếng Việt rộng mở hơn, Đặng Thị Vân Chi cũng chưa đánh giá hết tầm mức của Đạm Phương, người phụ nữ tiêu biểu đứng giữa sự khai mở của bà Sương Nguyệt Anh và sự khai triển của bà Nguyễn Đức Nhuận (Cao Thị Khanh) (32). Vấn đề chỉ ít nhiều trở lại có hệ thống trong luận án của Bùi Trân Phượng, Viet Nam 1918-1945, genre et modernité. Emergence de nouvelles perceptions et expérimentations/ Việt Nam 1918-1945, giới tính và hiện đại. Sự trỗi dậy của những nhận thức mới và kinh nghiệm mới, được bảo vệ thành công tại Đại học Lyon II (Pháp) năm 2008, mà rất tiếc chúng tôi mới chỉ tiếp xúc được qua bản toát yếu tác giả công bố trên tạp chí Thời Đại Mới(33). Việc hệ thống hóa Đạm Phương vào xu hướng nữ quyền chính trị xã hội (bên cạnh nữ quyền về văn hóa mà Phụ nữ tân văn là đại diện) là hợp lý với cách nhận diện bà như một nhà hoạt động nữ quyền (féministe) không rứt đứt với những tác động của nhà cách tân (modernistes) chịu tác động của Tân thư, Tân văn kết tập với một kinh nghiệm đọc khác, từ một trải nghiệm giới khác.    
V
iệc đặt lại Đạm Phương vào phả hệ vấn đề phụ nữ được thảo luận trên báo chí nửa đầu thế kỷ là một việc làm cần thiết để có thể xác định vị trí của bà, và cùng với đó, quá trình dịch chuyển của các quan niệm và hành động mang tính nữ quyền ở Việt Nam. Một trong không nhiều những trí thức thuộc giới tinh hoa ở Việt Nam ngay đầu thế kỷ XX, Nguyễn Văn Vĩnh, là người thực sự mở ra chủ trương về vấn đề phụ nữ. Việc này được ông khởi động trên Đăng cổ tùng báo(34), và sau đó, xiển dương trên Đông Dương tạp chí(35) và Trung Bắc tân văn, nơi ông đều giữ vị trí chủ bút. Trong lĩnh vực phụ nữ, cả ba tờ đều có mục Nhời đàn bà(36), ban đầu do Nguyễn Văn Vĩnh chấp bút, sau đăng những bài viết của tác giả khác, mà những năm đầu thập niên 1920, Đạm Phương nhiệt thành tham gia. Tiếp nối vào đó, là những hoạt động của Phạm Quỳnh, với ít nhiều những liên đới với Đạm Phương, đã được chúng tôi chỉ ra ở trên. Tất cả làm thành một sợi dây tuy mỏng mảnh nhưng mạch lạc về sự tiệm tiến của các vấn đề phụ nữ. Dẫu vậy, việc liên kết với những thành phần tinh hoa nhất đương thời không đủ xác quyết nguyên nhân lựa chọn tham gia vào sự nghiệp báo chí về phụ nữ và xã hội của Đạm Phương. Sự hình thành của Nữ công học hội tại Huế, tổ chức phụ nữ đầu tiên của Việt Nam mà bà làm hội trưởng cũng vậy, như một sắc mắc đáng lưu ý của Bùi Trân Phượng (tại sao lại ở kinh đô này chứ không phải Sài Gòn hay Hà Nội? và tại sao ở đây lại sớm xuất hiện những phụ nữ có tư tưởng tân tiến như Đạm Phương, Trần Thị Như Mân (phu nhân học giả Đào Duy Anh)?), cũng chưa tìm được ở đây lời giải thuyết phục. Câu hỏi vẫn để bỏ ngỏ ở đấy. Nhưng chính từ việc đi tìm câu trả lời cho những câu hỏi ấy, có một điều đáng lưu ý là, trải khắp không gian ba miền, trong khoảng 30 năm đầu của thế kỷ XX, chúng ta có thể nhận thấy ít nhiều giới tinh hoa Việt Nam đã chia sẻ với nhau những quan điểm và lý tưởng về vấn đề phụ nữ. Có sự phân hóa về mặt tiểu tiết, nhưng về đại cục thì sự phân biệt trong quan niệm và hành xử chưa thật đáng kể. Đó là lý do để khi tổng kết cuộc trưng cầu ý kiến nhân ra mắt Phụ nữ tân văn, gồm 12 nhân sĩ, theo thứ tự công bố trả lời trưng cầu trên Phụ nữ tân văn là: Trần Trọng Kim, Phan Văn Trường, Nguyễn Văn Bá, Nguyễn Văn Vĩnh, Đạm Phương nữ sĩ, Phạm Quỳnh, Bùi Quang Chiêu, Huỳnh Thúc Kháng, Phan Bội Châu, Nguyễn Phan Long, Cao Văn Chánh, Diệp Văn Kỳ, tờ báo đã đúc kết: “...Sao những nhà rất khác nhau về ý kiến chánh trị, mà đối với vấn đề phụ nữ lại được tương tợ nhau như vậy ? Dẫu các nhà ấy không thật là đồng ý với nhau hẳn mà nhà nào cũng có một chỗ gặp nhau: là muốn duy trì gia đình (ĐAD – nhấn mạnh). Từ cấp tấn như ông Phan Văn Trường cho tới ôn hòa như ông Phạm Quỳnh, chẳng thấy ai khuyên bảo [bỏ] gia đình, như nhiều phái thợ thuyền Âu Mỹ cả”(37). Có thể nhận thấy ở đây, “muốn duy trì gia đình” là hạt nhân tư tưởng của giới tinh hoa hoạt động văn hóa và xã hội những năm giao thời này. Một quan niệm được coi là trung dung trong trong tính cách chính trị nhưng lại là khoan dung trong tính cách văn hóa của các hoạt động nữ quyền, thể hiện rõ ràng tính chất nước đôi khi quan niệm truyền thống va đập với các quan niệm khác trong quá trình hiện đại hóa.

Bước sang những năm 1930, sự thống nhất bước đầu của thế hệ cầu nối giữa văn hóa Á-Âu rạn vỡ dần bởi sự xuất hiện của các thế hệ trí thức mới, tiếp thu ảnh hưởng văn hóa trực tiếp từ phương Tây, không phải ít nhiều qua con đường Tân thư, Tân văn như trước. Bản thân văn hóa và xã hội Việt Nam, sau mấy chục năm thực dân Pháp thúc đẩy quá trình khai thác thuộc địa, cũng đã trở nên phân hóa sâu sắc, đặc biệt ở khu vực thị dân và văn hóa đô thị mới thành hình. Vấn đề phụ nữ không còn gói gọn trong mấy chủ điểm về giáo dục, luân lý hay thực nghiệp nữa, mà mở ra các chủ điểm mới như xã hội, chính trị, hay đào sâu đến các đặc điểm về sinh lý và tính cách. Chẳng hạn, chỉ xét trên chính Phụ nữ tân văn, quan điểm “duy trì gia đình” cũng đã bị chất vấn. Từ sự khác biệt của ý hệ các nhà diễn giải (như giữa Phan Khôi với Nguyễn Thị Chính (phu nhân Phan Văn Hùm), hay của chính Phan Văn Hùm chẳng hạn) (38). Ở đấy, xung đột xuất phát từ việc một phía xuất phát từ ý hướng cá nhân tự nhiệm (“tu thân”) của Nho giáo còn một phía xuất phát từ cảm hứng (tranh đấu) xã hội của chủ nghĩa Marx, một phía nhấn mạnh vào tính cách đạo đức của vấn đề trong khi phía kia nhấn mạnh vào tính chất chính trị của nó. Nhưng quan trọng hơn là, cả hai cùng bị chất vấn bởi thực tại mới, nỗi lo lắng từ cảm nghĩ thông thường (đơn cử như trước các vấn đề của “phụ nữ tân tiến”): hiện đại hóa thực sự đã luồn lách vào những vấn đề sát sườn nhất của đời sống thế tục, đời sống chi phối và ảnh hưởng sâu rộng tới quần chúng chứ không còn là đời sống tinh thần của một bộ phận tinh hoa. Chủ nghĩa Marx và các tư tưởng phương Tây về phụ nữ sẽ từng bước xâm chiếm vào diễn ngôn về phụ nữ, theo đà phát triển của các phong trào chính trị và theo đà của xu hướng giao lưu văn hóa, như một quan niệm của McHale hay Đặng Thị Vân Chi, khi xét vấn đề phụ nữ trên cấp độ tư duy của nó. Trong khi ở một khía cạnh khác, ở đời sống thế tục của vấn đề, như cách mà Nguyễn Nam chỉ ra từ một biểu hiện nhỏ bé của đời sống ấy là hiện tượng “phụ nữ tự sát” chẳng hạn(39), thì câu chuyện lại không hẳn mạch lạc như vậy. Luôn có những trồi sụt trong quan điểm về phụ nữ hay nữ quyền ở Việt Nam, khi tư tưởng thường khi bị triệt thoái về mặt bằng thực tại, bởi một truyền thống ít luận lý và một thực tại bị phân hóa bởi nhiều lựa chọn chấp nhận và nghi hoặc lối tư duy còn xa lạ. Cho đến trước 1945, vấn đề nữ quyền vẫn ở trong thế hỗn dung các quan điểm đối thoại như vậy. Nhưng chiều hướng nữ quyền được “dân tộc hóa” (nationalisation), như một vận dụng khéo léo quan điểm của sử gia Françoise Thébaud của Bùi Trân Phượng để tìm hiểu giai đoạn lịch sử rối ren này, xuất phát từ phía các nhà hoạt động cánh tả dần trở nên lấn lướt hơn, và về sau mang tính cách áp đặt hơn khi phụ nữ được huy động vào hai cuộc kháng chiến và kiến quốc. Nó làm cho vấn đề phụ nữ nói chung và nữ quyền nói riêng, từ sau đổi mới 1986, phải bắt đầu lại ở một số chủ điểm mà trước đó nửa thế kỷ, người ta đã khá trở nên thân thuộc(40). Một phần nào đó, cùng với quá trình hiện đại hóa thời toàn cầu hóa, nó làm cho giới và nữ quyền, trở thành một vấn đề đương đại được quan tâm sâu rộng.

Đặt Đạm Phương, với quan niệm và sự hiện thực hóa quan niệm về giới nữ và sự nghiệp giáo dục (của) giới nữ, vào trong lịch sử vấn đề phụ nữ Việt Nam như phác thảo ở trên, dễ nhận thấy bản lĩnh văn hóa của bậc nữ lưu trước những đối kháng gay gắt của các tác nhân mới du hành vào mảnh đất Việt Nam. Tín ngưỡng thờ Mẫu, đạo lý thờ Nho, tự trong nội tại đã hàm chứa các phản ứng hay thích nghi với chủ nghĩa bình quyền, tự do luyến ái hay tranh đấu chính trị. Nhưng tất cả những quan niệm mang tính lý thuyết ấy, đều quy hội vào cơ cấu và sự tồn tại của gia đình. Khi căn cước bị khủng hoảng, rất ngạc nhiên, gia đình chứ không phải cá nhân, trở thành nơi nương náu của nữ quyền. Đó là mảng màu Việt Nam trên bức khảm nữ quyền thế giới, đã được kết tạo rất sớm, từ trong thái độ khoan hòa của giới tinh hoa Việt Nam giữa buổi giao thời. Đạm Phương, trong không gian của những nhận thức và trải nghiệm mới về giới và hiện đại ở Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX, vì vậy, xác đáng với những nhận định của Bùi Trân Phượng: “Trong chủ nghĩa nữ quyền chánh trị xã hội... người đã để lại số lượng sách báo đồ sộ và những hoạt động thực tiễn không kém ấn tượng là Đạm Phương nữ sử, nhà giáo dục có tính cách tân đáng kinh ngạc; tôi nhận diện ở bà một nhà hoạt động nữ quyền ôn nhu, trầm tĩnh nhưng tâm huyết và quyết đoán trong sứ mạng khai trí của mình. Là mẹ và là bà của hơn một thế hệ thanh niên trí thức nam và nữ, tất cả đều được bà cho học lấy một nghề để mưu sinh, sống tự lập hay đã dấn thân hoạt động cách mạng, suốt đời bà chuyên tâm đào tạo và tổ chức đào tạo nhiều nhà giáo dục nữ khác, chia sẻ với họ tri thức, năng lực giáo dục và niềm tin rằng ‘giáo dục không phải là một công trình trói buộc người ta. Giáo dục là một công trình bồi bổ để nảy nở tất cả những năng lực cao quý trong một người’(41). Phát biểu nầy đúc kết tuyệt diệu sự hài hòa giữa truyền thống nhân bản trong đào tạo ban đầu của bà trên nền tảng Nho giáo và chủ nghĩa cách tân mạnh mẽ của một người tự học (autodidacte) đã mở trí, mở lòng tiếp nhận tri thức hiện đại quốc tế”(42). Chúng ta có thể hoàn toàn chia sẻ với nhận định ấy của Bùi Trân Phượng về những hoạt động nữ học, những tiếp cận vấn đề phụ nữ từ nền tảng nữ tính và nữ quyền của Đạm Phương. Có điều, cần nói thêm rằng, từ chính hoạt động nữ học ấy, vị thế của Đạm Phương hiện lên như một nhà hoạt động nữ quyền Việt Nam đầu tiên xây dựng quan niệm nữ quyền của mình trên nền tảng nữ tính một cách có hệ thống và có tính tư tưởng./.

Hà Nội, tháng 4/2011-6/2013
Đoàn Ánh Dương
____________________
(1) Nam phong, văn học, khoa học tạp chí. Xuất bản hằng tháng, đến số 195 (tháng 5/1934) xuất bản hai kỳ mỗi tháng. Chủ bút: Phạm Quỳnh phần quốc ngữ và Pháp ngữ, Nguyễn Bá Trác phần Hán ngữ; Nguyễn Tiến Lãng thay thế vị trí Phạm Quỳnh từ 199 (tháng 7/1934). Số 1 ra tháng 7/1917, số cuối cùng (210) ra tháng 12/1934. Theo Nguyễn Thành: Từ điển thư tịch báo chí Việt Nam, Nxb. Văn hóa thông tin, H., 2001, tr.345-346.
(2) Trung Bắc tân văn, lúc đầu là tuần báo sau chuyển thành nhật báo. Chủ nhiệm: F.H. Schneider; Chủ bút: Nguyễn Văn Vĩnh,… Số 1 ra tháng 1/1913 [1915?], số cuối cùng (7.265) ra tháng 4/1941. Theo Nguyễn Thành: Từ điển thư tịch báo chí Việt Nam, Sđd, tr. 657; Đặng Thị Vân Chi: Vấn đề phụ nữ trên báo chí tiếng Việt trước năm 1945, Nxb. Khoa học xã hội, H., 2008, tr.60-74.
(3)
 Phụ nữ tân văn là tờ báo quốc ngữ thành công nhất của phụ nữ Việt Nam, tuần báo xuất bản ngày thứ Năm. Sáng lập: bà Nguyễn Đức Nhuận (Cao Thị Khanh), Chủ nhiệm: Nguyễn Đức Nhuận, Chủ bút: Đào Trinh Nhất, [và có sự góp mặt đáng kể của Phan Khôi tuy không được xác định thuộc bộ biên tập]. Số 1 ra ngày 2/5/1929, [đến số 82 báo bị chính quyền đình bản theo nghị định ngày 6/12/1930, về sau có nghị định thay đổi việc đình bản vĩnh viễn này thành đình bản 5 tháng, nên đến ngày 21/5/1931 Phụ nữ tân văn ra tiếp số 83; ngoài ra, có thời gian ngắn, từ số 133 ra ngày 3/6/1932 đến số 157 ra ngày 2/7/1932, ngoài các số thường kỳ ngày thứ Năm, Phụ nữ tân văn còn ra báo hàng ngày với 4 trang khổ lớn, để đáp lại những luồng dư luận mà tòa báo cho là không công bằng xung quanh Hội chợ phụ nữ do Phụ nữ tân văn và Hội Dục anh Sài Gòn tổ chức tháng 5/1932, và phải đợi đến 16/8/1932, Tòa Trừng trị Sài Gòn mới tuyên phạt báo Trung lập và Sài thành về tội bày đều đặt chuyện cho báo Phụ nữ tân văn về vụ Hội chợ theo đơn kiện của ông bà Nguyễn Đức Nhuận], số cuối cùng [273] ra ngày 21/4/1935. Theo Nguyễn Thành: Từ điển thư tịch báo chí Việt Nam, Sđd, tr.428; Phan Khôi, Tác phẩm đăng báo 1929, Lại Nguyên Ân sưu tầm và biên soạn, Nxb. Đà Nẵng, Đà Nẵng, 2004, tr.10-11; Đặng Thị Vân Chi: Vấn đề phụ nữ trên báo chí tiếng Việt trước năm 1945, Sđd, tr.135; và Thiện Mộc Lan: ‘Phụ nữ tân văn’ – Phấn son tô điểm sơn hà, Công ty sách Thời đại & Nxb. Văn hóa Sài Gòn, Tp.HCM., 2010.
(4)
 Hữu thanh, cơ quan của Hội ái hữu những người làm công bản xứ trong thương nghiệp và công nghiệp Bắc kỳ. Xuất bản mỗi tháng hai kỳ. Chủ nhiệm: Nguyễn Duy Hợi, Trần Quang Huy, Nghiêm Vịnh; Chủ bút: Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu, Nguyễn Mạnh Hương; Thư ký biên tập: Nguyễn Thượng Hiền, Đào Trinh Nhất. Số 1 ra ngày 1/8/1921, số cuối cùng (22 ?) ra ngày 15/9/1924. Theo Nguyễn Thành: Từ điển thư tịch báo chí Việt Nam, Sđd, tr.272-273;
(5)
 Đạm Phương: “Vấn đề nữ học”, [Nam phong, số 43, tháng 1/1921], trong Tuyển tập Đạm Phương Nữ Sử, Lê Thanh Hiền sưu tầm, biên soạn, giới thiệu; Nguyễn Khoa Điềm bổ sung, sửa chữa, Nxb. Văn học, H., 2010, tr.61,63,64. Từ đây, các trích dẫn Đạm Phương đều theo sách này.
(6)
 Xin xem: Phạm Quỳnh: “Sự giáo dục đàn bà con gái”, [Nam phong, số 4, tháng 10/1917]. Cũng có thể tham khảo trong Về Đạm Phương Nữ Sử, Nguyễn Khoa Điềm sưu tập, Huế - Hà Nội, tháng 7/2010, [Tài liệu gia đình Nguyễn Khoa Điềm], tr.274-276; Nguyễn Bá Học, “Thư trả lời ông chủ bút Nam phong về vấn đề nữ học”, [Nam phong, số 40, năm 1920]. Cũng có thể tham khảo trong Về Đạm Phương Nữ Sử, Tlđd, tr.274-276. 
(7)
 Đạm Phương: “Vấn đề nữ học”, [Trung Bắc tân văn, số ra ngày 19&20/3/1924], trongTuyển tập Đạm Phương Nữ Sử, Sđd, tr.178.
(8) Đạm Phương: “Vấn đề nữ học”, [Trung Bắc tân văn, số ra ngày 19&20/3/1924], trongTuyển tập Đạm Phương Nữ Sử, Sđd, tr.178-179.
(9)
 Đạm Phương: “Vấn đề nữ học”, [Trung Bắc tân văn, số ra ngày 19&20/3/1924], trongTuyển tập Đạm Phương Nữ Sử, Sđd, tr.179.
(10)
 Đạm Phương: “Vấn đề nữ học”, [Trung Bắc tân văn, số ra ngày 19&20/3/1924], trongTuyển tập Đạm Phương Nữ Sử, Sđd, tr.179.
(11)
 Đạm Phương: “Vấn đề nữ học”, [Trung Bắc tân văn, số ra ngày 19&20/3/1924], trongTuyển tập Đạm Phương Nữ Sử, Sđd, tr.179.
(12)
 Đạm Phương: “Vấn đề nữ học”, [Trung Bắc tân văn, số ra ngày 19&20/3/1924], trongTuyển tập Đạm Phương Nữ Sử, Sđd, tr.180.
(13)
 Xin xem: Phan Khôi: Tác phẩm đăng báo 1929, Sđd, tr.40-102. 
(14)
 Đạm Phương: “Vấn đề nữ học”, [Trung Bắc tân văn, số ra ngày 19&20/3/1924], trongTuyển tập Đạm Phương Nữ Sử, Sđd, tr.181.
(15)
 Đấy là chưa tính đến chuyện sau ông, trên Phụ nữ tân văn và một số báo chí khác, vấn đề phụ nữ được bàn thảo và tranh luận khá sôi động, với những tên tuổi cũng đáng kể như Phan Văn Hùm, Nguyễn Thị Chính, Nguyễn Thị Kiêm, Nguyễn Thị Minh Khai mà những bước tiến chưa hẳn đã có sự vượt trội, dù các quan điểm tiếp cận đã trở nên phong phú và đa dạng hơn.
(16) Phan Khôi: Tác phẩm đăng báo 1929, Sđd, tr.214.
(17)
 Phan Khôi: Tác phẩm đăng báo 1929, Sđd, tr.218.
(18)
 Đạm Phương: “Bài trả lời cuộc trưng cầu ý kiến của báo Phụ nữ tân văn”, [Phụ nữ tân văn, số 5, ra ngày 30/05/1929], trong Tuyển tập Đạm Phương Nữ Sử, Sđd, tr.335-336. Về các ý kiến được trưng cầu, xin xem: “Tổng luận cuộc trưng cầu ý kiến của Phụ nữ tân văn”, [Phụ nữ tân văn, số 16, ra ngày 08/08/1929], cũng có thể tham khảo trong Về Đạm Phương Nữ Sử, Tlđd, tr.222-226.
(19)
 Đạm Phương: “Bổn phận con gái”, [Hữu thanh, số 16, ra ngày 15/03/1922], trong Tuyển tập Đạm Phương Nữ Sử, Sđd, tr.74.
(20) Đạm Phương: “Phụ nhơn công nghệ”, [Hữu thanh, số 21, ra ngày 01/06/1922], trongTuyển tập Đạm Phương Nữ Sử, Sđd, tr.83-84.
(21)
 Đạm Phương, “Bàn về giáo dục con gái”, [Hữu thanh, số 27&28, năm 1922], xin xem chi tiết trong Tuyển tập Đạm Phương Nữ Sử, Sđd, tr.90-94.
(22)
 Đạm Phương: “Diễn văn tại lễ khánh thành Nữ công học hội”, [Trung Bắc tân văn, số ra ngày 21/06/1926], trong Tuyển tập Đạm Phương Nữ Sử, Sđd, tr.323,324,325.
(23)
 Đào Hùng: “Bà Đạm Phương và nhà nữ công học hội ở Huế”, [Phụ nữ tân văn, số 69, ra ngày 11/09/1930]. Cũng có thể tham khảo trong Về Đạm Phương Nữ Sử, Tlđd, tr.233-237. 
(24)
 Đạm Phương: “Mấy lời hoan nghênh về việc sáng lập Phụ nữ tùng san”, [Tiếng dân, 1929], trong Tuyển tập Đạm Phương Nữ Sử, Sđd, tr.331.
(25)
 Đạm Phương: “Cái cảm tưởng của nữ giới đối với Ích hữu thư xã”, [Hữu thanh, số 20, ra ngày 15/05/1922], trong Tuyển tập Đạm Phương Nữ Sử, Sđd, tr.81-82.
(26)
 David [G.] Marr: “The 1920s women’s rights debates in Vietnam”, The Journal of Asian Studies, Vol. XXXV, No.3, (May, 1976), pp.371-389.
(27)
 David G. Marr: Vietnamese Tradition on Trial, 1920-1945, University of California Press, Berkeley, 1981.
(28)
 Xin xem: David G. Marr: “Women Questions”, trong Vietnamese Tradition on Trial…, Sđd, tr. 190-251; đặc biệt là phần “Early Women’s Organizations” (tr.214-220) của chương này.
(29)
 Shawn McHale: “Printing and Power: Vietnamese Debates over Women’s Place in Society, 1918-1934”, in Essays into Vietnamese Pasts, (Southeast Asia Program), K.W. Taylor and John K. Whitmore ed., Cornell University Press, Ithaca, 1995. Có thể tham khảo các bản dịch của Đặng Thị Vân Chi tại: http://chuyencuachi.blogspot.com/2013/07/an-pham-va-quyen-luc-cac-cuoc-thao-luan.html; và Hồ Liễu tại: http://www.gio-o.com/HoLieu/HoLieuShawnMcHaleDanBaVN1934.htm
(30)
 Shawn McHale: Print and Power: Confucianism, Communism, and Buddhism in the Making of Modern Vietnam, University of Hawaii Press, Honolulu, 2004.
(31)
 Nữ giới chung là tờ báo quốc ngữ đầu tiên của phụ nữ Việt Nam, cơ quan phổ biến ngôn ngữ, thương mại, kỹ nghệ và các vấn đề phụ nữ. Chủ nhiệm: Henri Blanquier; Chủ bút: bà Sương Nguyệt Anh (con gái  cụ đồ Nguyễn Đình Chiểu). Báo ra hằng tuần vào thứ Sáu. Số 1 ra ngày 1/2/1918, số cuối cùng (22) ra ngày 19/7/1918. Theo Nguyễn Thành: Từ điển thư tịch báo chí Việt Nam, Sđd, tr.405; và Đặng Thị Vân Chi: Vấn đề phụ nữ trên báo chí tiếng Việt trước năm 1945, Sđd, tr.74-76.
(32)
 Đặng Thị Vân Chi: Vấn đề phụ nữ trên báo chí tiếng Việt trước năm 1945, Sđd.
(33)
 Bùi Trân Phượng, Việt Nam 1918-1945, giới tính và hiện đại: sự trỗi dậy của những nhận thức mới và kinh nghiệm mới, Tạp chí Thời Đại Mới, số 18, tháng 3/2010.
(34)
 Đăng cổ tùng báo nguyên là công báo mang tên Đại Nam đồng văn nhất báo, xuất bản từ năm 1892, đến 1907 thì đổi tên thành Đại Nam (Đăng cổ tùng báo), đánh dấu việc trở thành tờ báo tự do, xuất bản hằng tuần bằng hai thứ chữ là quốc ngữ và Hán. Chủ nhiệm: F.H. Schneider; Chủ bút: Nguyễn Văn Vĩnh. Số 1 (793, theo cách đánh số tiếp tục Đại Nam đồng văn nhất báo) ra ngày 28/3/1907; số cuối cùng (826) ra ngày 14/11/1907. Theo Nguyễn Thành: Từ điển thư tịch báo chí Việt Nam, Sđd, tr.172-173; Đặng Thị Vân Chi: Vấn đề phụ nữ trên báo chí tiếng Việt trước năm 1945, Sđd, tr.60-74.
(35)
 Đông Dương tạp chí, tạp chí bình dân, văn chương, nông nghiệp, thương mại. Chủ nhiệm: F.H. Schneider; Chủ bút: Nguyễn Văn Vĩnh. Số 1 ra ngày 15/5/1913, số cuối cùng (231) ra ngày 15/6/1919. Theo Nguyễn Thành: Từ điển thư tịch báo chí Việt Nam, Sđd, tr.191; Đặng Thị Vân Chi: Vấn đề phụ nữ trên báo chí tiếng Việt trước năm 1945, Sđd, tr.60-74.
(36)
 Về Nguyễn Văn Vĩnh với vấn đề phụ nữ, xin xem: Đặng Thị Vân Chi: Vấn đề phụ nữ trên báo chí tiếng Việt trước năm 1945, Sđd, tr.60-74.
(37)
 Dẫn theo: Thiện Mộc Lan: ‘Phụ nữ tân văn’ – Phấn son tô điểm sơn hà, Sđd, tr.39.
(38)
 Về vấn đề này, xin xem: Shawm McHale: “Printing and Power: Vietnamese Debates over Women’s Place in Society, 1918-1934”, Tlđd.
(39)
 Nguyễn Nam: Phụ nữ tự sát – Lỗi tại tiểu thuyết? (một góc nhìn về phụ nữ với văn chương – xã hội Việt Nam đầu thế kỷ XX), tham luận Hội thảo quốc tế Quá trình hiện đại hóa văn học Nhật Bản và các nước khu vực văn hóa chữ Hán: Việt Nam, Trung Quốc, Hàn Quốc (từ cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX), do Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Tp.HCM. tổ chức, ngày 18-19/3/2010. Bản điện tử tại:http://khoavanhocngonngu.edu.vn/home/index.php?option=com_content&view=article&id=991:phu-nt-sat-loi-tai-tieu-thuyet&catid=85:hi-tho-qua-trinh-hin-i-hoa-vn-hc&Itemid=159
(40)
 Trong văn học chẳng hạn, xuất phát từ các trải nghiệm giới và tính dục, đời sống đương đại trong tác phẩm của các nhà văn nữ thể hiện những cảm nhận khác lạ, khó tìm thấy trong văn học của nam giới, và trong nền văn học bị nam tính chi phối trước đó. Sự xen cài giữa màu sắc nữ quyền và nữ tính trong sáng tác của họ, làm nên sức hấp dẫn riêng có, mời gọi tiếp nhận nhưng đồng thời thách thức các nỗ lực diễn giải. Gần 40 năm sau chiến tranh, văn học nữ đã phát triển với những khúc quành: từ sự quy chiếu của diễn ngôn dân tộc qua diễn ngôn dân sự đến diễn ngôn đặt nền tảng ở sự nhìn nhận về tính cá thể. Trong dòng chảy ấy, những sáng tác xuất phát từ ý hệ dân sự có được thành công hơn cả, bởi nó dung hợp được cả nguồn cội văn hóa, ý chí xã hội và sức mạnh giới. Nhưng nó là một ốc đảo, không trao truyền năng lượng cho giai đoạn kế tiếp, để chỉ trở thành một điểm nhấn kỳ lạ, như chính sự phát triển lạ kỳ của văn học Việt Nam đương đại.
(41)
 Tuyển tập Đạm Phương nữ sử, Lê Thanh Hiền sưu tầm, biên soạn, giới thiệu, Nxb. Văn học, H., 1999, tr.211 (Bùi Trân Phượng chú).
(42)
 Bùi Trân Phượng, Việt Nam 1918-1945, giới tính và hiện đại: sự trỗi dậy của những nhận thức mới và kinh nghiệm mới, Tlđd.
--
(Nguồn: Tạp chí Nghiên cứu Văn học, số 8 - 2013)